SƠ LƯỢC VỀ ĐÌNH NGUYỄN TRUNG TRỰC

Lời nói đầu

            Thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang là thành phố biển, nằm dọc theo bờ biển Tây Nam của Tổ quốc, được hình thành trên 300 năm, dưới thời Chúa Nguyễn, trên địa bàn có nhiều đình, chùa… trong  đó, có 8 di tích được công nhận, nhưng nổi bật nhất là di tích đình Thần Nguyễn Trung Trực, đây là di tích cấp quốc gia, được công nhận là di tích Lịch sử & Văn hóa bằng Quyết định số 191. VHQĐ, ngày 22/3/1988 của Bộ Văn hóa.

Quá trình hình thành đình Thần Nguyễn Trung Trực đã trải qua một thời gian dài từ những năm cuối 30 và đầu năm 40 của thế kỷ thứ XIX, đến nay đã gần 170 năm hình thành và phát triển. Do đó, việc truy tìm lại lịch sử là một việc vô cùng khó, không tránh khỏi những điều thiếu sót.  Vì thế, chúng tôi chỉ dám dùng từ “ sơ lược “ để viết về lịch sử của  đình Thần Nguyễn Trung Trực. Đây là một ngôi đình Thần đã đi vào tâm thức của  bao người dân Rạch Giá, Kiên Giang nói riêng, và của cả người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung; là một ngôi đình “ tâm linh “ đã gắn kết nhân dân lại với nhau, cùng coi nhau như  “con một nhà” trong những ngày diễn ra “ Lễ giỗ “ trước đây, và nay nâng lên là “ Lễ hội truyền thống” hàng năm.

Do đó, việc tìm hiểu về ngôi đình Thần thân thương nầy có một ý nghĩa đối với nhân dân và các thế hệ trẻ sau nầy, không thể để mai một một lịch sử  đáng nhớ, đáng ghi nhận của một địa phương có truyền thống anh hùng trong chống giặc ngoại xâm,  góp phần giành lại độc lập cho dân tộc, và xây dựng mãnh đất thân yêu ngày càng phát triển.

Rất mong các vị  học giả, các nhà nghiên cứu, các vị  bô lão, các bạn đọc nhiệt tình góp ý để việc hoàn chỉnh tư liệu nầy được đầy đủ hơn.

Trân trọng.

 

Mùa thu, Đinh Dậu niên (2017)

Nguyễn Phước Hoa

PHẦN I:

SƠ LƯỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CỦA RẠCH GIÁ

Thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, là một thành phố nằm ven biển ở phía Tây Nam của Tổ quốc, có thể coi là thành phố biển. Nơi đây có nhiều di tích Lịch sử – Van hóa – Nghệ thuật nổi tiếng, là điểm dừng chân của du khách trước khi đến Hà Tiên, quần đảo Nam Du, Phú Quốc, và đến với U Minh Thượng gắn liền với lịch sử Cách mạng của tỉnh Kiên Giang.

Xa xưa, vùng Rạch Giá có hai con rạch cách nhau không xa, cả hai cùng đổ ra biển Tây Nam. Hai con rạch nầy ăn thông với nhau, đó là rạch Giá và rạch Lạc Dục. Theo cách hình thành địa danh dân gian, người sau có thể suy đoán rằng , ngày xưa nơi đây có lẽ có nhiều cây giá, một loài cây chịu ngập mặn ở ven biển. Chính cây giá làm cho sáp ong mật có màu trắng, nên đồng bào Khmer ở đây gọi Rạch Giá là Kra – mul – so, có nghĩa là sáp trắng.

Sử sách nhà Nguyễn ghi Rạch Giá là Giá Khê. Khoảng 300 năm trước, từ Hà Tiên, Rạch Giá cho đến tận mũi Cà Mau là đất hoang, ít có người ở, chỉ có một vài cụm dân cư người Việt, người Khmer. Dần dà, lưu dân người Việt lần lượt đến đây ngày càng đông thêm; họ cư trú ven biển Tây Nam cho đến tận hải đảo. Sau đó, Mạc Cửu đến đây, Ông bắt đầu chiêu tập lưu dân người Việt ở Phú Quốc, Lũng Kỳ, Cần Bột, Vũng Thơm, Rạch Giá, Cà Mau thiết lập 7 xã thôn, và hình thành Trấn Hà Tiên ( 1708).

Vào thời kỳ nầy, tại Rạch Giá có cụm dân cư người Việt ở sát ven biển, làm nghề đánh bắt hải sản; cụm dân cư người Khmer trong nội địa làm ruộng nước; và cụm dân cư người Hoa, họ vừa làm ruộng, vừa buôn bán, nhưng buôn bán là chủ yếu; lúc nầy người Việt đông gấp đôi người Khmer. Theo sự ghi chép xưa bằng chữ Phạn ( Sanskrite ) trên lá thốt nốt,  nay  còn lưu trữ ở chùa Sóc Suông ( Phi Thông) đã ghi “ cứ một người làm ruộng thì hai người Nam đi biển”.

Đến năm 1739, dưới thời Mạc Thiên Tích làm tổng binh Trấn Hà Tiên, Ông mới lập Rạch Giá làm huyện Kiên Giang. Đây là lần đầu tiên Kiên Giang được mở rộng về không gian, và Rạch Giá trở thành huyện lỵ của huyện Kiên Giang. Đến lúc nầy, đất đai vùng ven biển Rạch Giá vẫn trong tình trạng hoang vu, “ trong sông có nhiều cá sấu, đất thường ẩm, thấp, phải gác cây để ở” .

Khi xưa ở Rạch Giá,biển vào sâu tận Phi Thông, tức là cách bờ biển hiện nay đến 5, 6 km, vùng đất biển thì toàn rừng rậm, đầy cọp, beo, rắn độc…Theo thời gian,  với tác động kỳ diệu của thiên nhiên, phù sa cùng với giá, mấm, tràm tiến về phía biển; và  giá, mấm, tràm lại kéo phù sa tụ lại; những bãi lầy dần dần được phù sa bồi đắp cao hơn. Các rạch nhỏ xuất hiện chi chít. Cái tên Rạch Giá là do thực tế đó mà ra. Cách đây vài chục năm, nhân dân phát hiện vùng Dãy Ốc, Dái Heo ( Phi Thông – Vĩnh Hiệp ) có những ghe, thuyền, cùng những thân cây tràm, cây mấm, cây giá bị bồi lấp dưới mặt đất, phải chăng đây là chứng tích nói lên quá trình bồi tụ nên vùng đất Rạch Giá ngày nay…Rạch Giá nằm trên một bờ biển dài hàng ngàn mét, biển bùn, nước màu thẩm, chứa nhiều hải sản thuận lợi cho phát triển ngư nghiệp. Từ đó, đã hình thành làng chài ở ven biển Rạch Giá.

 PHẦN 2

HÌNH THÀNH NGÔI ĐÌNH LÀNG THỜ THẦN NAM HẢI

Tương truyền,  từ những năm cuối thập niên 30, đầu thập 40 của thế kỷ XIX, ngoài vàm Giá Khê ( Rạch Giá ), vào một đêm mưa to, gió lớn suốt ngày đêm, nhằm ngày mùng 5 tháng 5 âl,  có một con cá Ông trôi dạt tấp vào mõm doi, và lụy ( chết ) tại đây, nơi có xóm lưới của làng.

Ngư dân xóm lưới theo tín ngưỡng dân gian mới cử người đi báo làng và xin cất miếu để thờ, nhằm đền ơn cá Ông đã từng phù trợ cho họ khi đi biển, thuận buồm xuôi gió, đánh được nhiều cá, tôm. Họ được làng đồng ý và tiếp sức. Miếu cất lên gần vị trí Ông lụy, bằng cây lá, bốn mùa cúng tế tươm tất;  nhưng được một số năm lại xuống cấp, làng và nhân dân quyên góp để sửa chữa lại.

Trước năm 1850, sau lần sửa chữa lại, các vị bô lão trong làng đã đổi từ ngôi miếu trở thành ngôi đình, trước cổng có tên bằng ván đề “ Đình thờ Thần Nam Hải “ ; vì vùng nầy khi xưa có tên là xóm Thủ, dân chúng hành nghề đánh cá hơn 80 %. Do vị trí ngôi đình nằm cạnh bờ rạch Giá Khê ( Rạch Giá ), hai bên bờ rạch mọc toàn cây giá và cây mấm, ngoài mé bờ biển có cây bần; dân chúng lấy ngày mùng 5 tháng 5 âl làm ngày vía và cũng là ngày lễ của ngành ngư nghiệp. Hầu hết các ghe thuyền đều nghỉ trong ngày nầy, không ra khơi đánh bắt; họ đem lễ vật đến đình cúng tế và ăn mừng.

Đến năm Tự Đức ngũ niên, ngày 29 tháng 11 năm Nhâm Tý ( 1852), vua Tự Đứcban sắc phong viết bằng chữ Hán “ Sắc Đại càn quốc gia Nam Hải Đại tướng quân Tôn thần “ và gia phong cho đình thờ “ Thành hoàng bổn cảnh”. Từ đây, đình vừa thờ cá Ông, vừa thờ Thần Thành hoàng bổn cảnh, đồng thời cũng là đình làng Vân Tập. Thời ấy, Rạch Giá có 3 làng là : Vĩnh Hòa, Thanh Lương, Vân Tập. Đình thuộc về làng Vân Tập.

Sau đó, 3 làng ở chợ Rạch Giá lại sáp nhập lại thành một, khi sáp nhập xong lấy tên là làng Vĩnh Thanh Vân  ( Vĩnh là Vĩnh Hòa; Thanh là Thanh Lương; Vân là Vân Tập ). Đình lại thuộc về làng Vĩnh Thanh Vân.

Lúc 12 giờ, ngày 24 tháng 6 năm 1867, khi Pháp chiếm Hà Tiên và Rạch Giá xong, Pháp lại chia chợ Rạch Giá ra làm 3 làng , đó là làng Vĩnh Thanh, Vĩnh Thanh Vân và Vĩnh Lạc.

Theo các vị Tiền hiền kể lại, khi Cụ Nguyễn Trung Trực đánh đồn Kiên Giang đêm ngày 16/6/1868, Cụ đã có yếm quân tại đây đến 4 giờ sáng thì đồng loạt tấn công đánh đồn. Sau đó, giặc Pháp bắt được Cụ, chúng gán cho Cụ tội chống lại nhà nước Đại Pháp và xử Cụ tội tử hình.

Khi giết Cụ Nguyễn xong, giặc Pháp ra lệnh cấm không ai được thờ cúng, mặc dù người dân Rạch Giá nói riêng, và nhân dân Kiên Giang nói chung rất tôn kính Cụ Nguyễn, nhưng không ai dám lập đền thờ để thờ Cụ. Các vị bô lão, hương chức làng và nhân dân trong vùng tìm cách thờ phụng Cụ. Họ mới lập bài vị bằng chữ Hán, và đưa vào đình thờ cá Ông để thờ nhằm qua mắt địch.

Đến năm 1881, sau 29 năm, đình bị xuống cấp nghiêm trọng, các vị hương chức và bà con vạn lưới có ý định cần sửa sang lại. Lúc ấy, ở Sở Thương chánh gần đình có Ông Lenestour là người Pháp, có vợ người Việt, ông có cả tên tiếng Việt là “ Lê Đức Tâm” . Ông là người có mặt và sinh sống tại đây từ khi Pháp chiếm Rạch Giá. Vì vậy, phong tục, tập quán ở đây ông rất am hiểu và rành tiếng Việt. Ông là người chuyên khai khẩn đất đồn điền từ Rạch Giá đến Mỹ Lâm, Tân Điền, mục đích của Ông là khai thác rừng tràm để cung cấp chất đốt cho tàu chạy trên tuyến Hà Tiên – Rạch Giá – Mỹ Tho, lúc ấy tàu chạy bằng hơi nước.

Khi nghe Hương chức làng Vĩnh Thanh Vân cùng dân xóm lưới bàn định xây dựng lại đình để thờ Thần Nam Hải và thờ Cụ Nguyễn Trung Trực. Ông Lenestour nghe được tin ấy, liền hưởng ứng đóng góp tài vật và tham gia vào ban xây dựng; tuy ông là người Pháp nhưng lại rất tôn kính Cụ Nguyễn.

Sau đó, Ban Hương chức làng có lập một ban xây dựng đình Thần gồm 11 vị sau đây:

  • Ông Nhan Cao              Hương cả.
  • Ông Phạm Trường Mỹ Hương cả.
  • Ông Lê Xuân Kỳ Hương chủ.
  • Ông Cao Văn Vẹn Hương cả.
  • Ông Bùi Phước Liểu Hương cả.
  • Ông Lê Đức Tâm ( Lenestour) Chủ miếu
  • Ông Trần Văn Búp Hương Lão
  • Ông Trần Văn Mười Hương Lão
  • Ông Trần Văn Lai Hương Đình
  • Ông Đổ Văn Tiền Hương Quan
  • Ông Lê Văn Bửu                   Hương Văn

Mười một vị nầy là những bậc kỳ lão đã tạo lập ngôi đình đầu tiên,hiện còn bài vị bằng đồng thờ tại bàn Hậu hiền trong chánh điện.

Ngôi đình được dời từ đầu voi rạch Giá Khê ( Rạch Giá ) bên làng Vĩnh Thanh Vân qua vị trí hiện nay tại  làng Vĩnh Thanh đến ngày hôm nay, do ông    Lê Văn Tâm (  Lenestour ) hiến tặng phần đất. Diện tích xây dựng đình khoảng 120 m2, với chiều dài 20m, ngang 9m, cột gỗ tròn bằng cây săn đá, xiêng, kèo, đòn tay bằng cây thao lao, nền lát gạch tào, vách ván. Phía trước cổng đình có tấm bảng đề “ La Pagode de la Baleine “ , có nghĩa là đình thờ cá Ông.

Sau khi xây dựng xong ngôi đình, cách trang trí và thờ phượng của ngôi đình có 3 khánh thờ: chính giữa thờ bài vị Cụ Nguyễn Trung Trực, không có ảnh, bài vị viết bằng chữ Hán, sơn son thiếp vàng. Bên tả thờ Thần Nam Hải Đại tướng quân. Bên hữu thờ Thành hoàng bổn cảnh.

Khi đình có đặt người trông nom hương khói ổn định, ngày đêm có người gìn giữ, các vị bô lão ở Tà Niên mới đem “ Kim thân “ của Quan phó Nguyễn Hiền Điều về thờ bên hữu ban của chánh điện, và dời Linh vị của Thành hoàng bổn cảnh ra phía trước chánh điện ( nơi gọi là vỏ qui ) để thờ; cũng cần nói rõ hơn “ Kim thân “ của Quan Phó từ trước đã có các vị bô lão, hương chức gìn giữ cẩn thận, đến khi đình thờ Thần Nam Hải xây dựng khang trang và ổn định, thì các vị bô lão, hương chức mới thỉnh về an vị tại đình cho tới nay.

Sau Hiệp định Geneve, 1954, thực dân Pháp rút ra khỏi đất nước, đình thờ Thần Nam Hải được đổi tên thành đình Thần Nguyễn Trung Trực, nhân dân rất vui mừng, vì từ nay ngôi đình Thần trong lòng nhân dân được chính thức mang tên vị anh hùng của dân tộc, đã thỏa lòng mong ước của mọi người.

Với sự tàn phá của thời gian, ngôi đình cũng được trùng tu phần mái và vách vài lần, tới năm 1963, các vị hương chức của đình đã bàn bạc cần phải trùng tu lại ngôi đình cho xứng tầm với

vị thế của vị anh hùng dân tộc, nên mới xin phép với Tỉnh vận động tài chính để tái thiết theo lối cổ đình thần Nam bộ, và đúc bê tông kiên cố lâu dài. Kiến thiết theo kiểu mẫu Thượng lầu hạ hiên, mặt tiền đâu mái, võ ca, đông lang, tây lang liền nhau xuông mái. Mô hình và thiết kế do kiến trúc sư Nguyễn Văn Lợi, ngụ tại số 199 Đại lộ Nguyễn Thái Học,  Sài gòn thực hiện, đã được xin ý kiến rộng rãi của đồng bào.

Thành phần Ban vận động tái thiết hiện có tên trên bảng cẩm thạch đặt trong chánh điện, bên phải võ ca, gồm có:

A- BAN THƯỜNG VỤ:

  • Ông Trần Văn Sáng , Trưởng. ban
  • Ông Châu Văn Sắc và Ông Trần Phát Minh , Phó trưởng ban.
  • Ông Đỗ Hiếu Tâm., Thư ký.
  • Ông Lưu Như Điền và Ông Lý Thanh, Kiểm soát.
  • Ông Hàng Mô Phong, Thủ quỹ.

B- BAN VĂN THƯ – ẤN LOÁT:

1- Ông Mã Sanh Long, Trưởng ban.

2- Ông Trình Kim Phi Sơn, Phó trưởng ban.

3- Ông Nguyễn Văn Bạch, Ông Trần Cẩm Tú, Ông Hồ Văn Thủy, Ông Nguyễn Văn Vĩnh  làm Uỷ viên.

C- BAN TÀI CHÁNH- CỔ ĐỘNG:

1- Ông Trương Khánh Châu, Trưởng ban.

2- Ông Huỳnh Tuấn, Phó trưởng ban.

3- Ông Huỳnh Học, Ông Nguyễn Văn Vện, Ông Lê Bá Diệp, Ông Quách Vũ Đức, Ông Trần Văn Tịch, Ông Trần Thiện Chí, và Bà Nguyễn Thị Phẩm làm Ủy viên.

D- BAN TỔ CHỨC – THÔNG TIN:

1- Ông Lâm Văn Chở ( tự Nguyên ), Trưởng ban.

2- Ông Võ Văn Lường, Phó trưởng ban.

3- Ông Huỳnh Văn Vui, Ông Đào Vĩ Anh, Ông Nguyễn Tấn Sử, Ông Nguyễn Đình Hường làm Ủy viên.

Đ- BAN NGHIÊN CỨU – XÂY CẤT:

1- Ông Huỳnh Văn Cương , Trưởng ban.

2- Ông Từ Ngọc Thạch, Phó trưởng ban.

3- Ông Cao Thiện Bửu, Ông Triệu Minh Lợi, Ông Nguyễn Văn Môn làm Ủy viên.

E- THẦU KHOÁN : Ông Nguyễn Kim Vui.

F- GIÁ TRỊ XÂY DỰNG : 2.000.000 ĐỒNG.

Đến năm 1964, ( ngày 23/12/1964 ) đã làm Lễ khởi công. Thời gian thi công có kéo dài, do việc vận động tới đâu thì thực hiện đến đó. Nhưng rồi với những tấm lòng thành tâm vì ngôi đình của Cụ Nguyễn, công trình đã hoàn thành, và ngày 24/02/1970, đã tổ chức Lễ khánh thành ngôi đình hoành tráng như hiện nay.

Cấu trúc công trình được xây dựng bằng vật liệu nặng : móng, cột, kèo, đà, kèo, được đổ bê tông cốt thép; đòn tay, rui bằng cây danh mộc, mái lợp ngói âm dương 3 lớp, kiến trúc ba gian. Trước cửa đấp nổi hình hai con rồng đang lấy nước, trên nóc  đấp nổi hình lưỡng long tranh châu, và trang trí bông bằng mãnh vỡ của các chén kiểu xưa.

Hai bên chánh điện là hai nhà khách : đông lang và tây lang nối liền với ngôi chánh điện., cũng được xây dựng bằng vật liệu kiên cố: móng, cột, đà, kèo bằng bê tông cốt thép; đòn tay, rui bằng cây danh mộc, mái lợp ngói âm dương 3 lớp.

Sau nhiều năm nghiên cứu, nhà văn Sơn Nam, đã báo cáo và chỉ dẫn cho UBND tỉnh Kiên Giang về vị trí của ngôi mộ Ông Nguyễn Trung Trực, ngôi mộ nầy nằm phía sau thành Sơn đá cũ của giặc Pháp, cạnh cây me…UBND tỉnh Kiên Giang đã cho tìm và phát hiện di cốt ngay tại nơi nơi nhà văn Sơn Nam chỉ dẫn. Sau đó, di cốt của Cụ Nguyễn đã được bốc lên theo đúng nghi thức và đưa về an táng tại đình thần Nguyễn Trung Trực, được đặt phía trước Tây lang.

Ngày 18/10/1986, Ông Võ Văn Kiệt , Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng; Ông Lâm Văn Thê, Ủy viên BCH.TW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy; Ông Lâm Kiên Trì, Phó Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang đã đến đặt viên đá đầu tiên xây dựng phần mộ của Ông Nguyễn tại đình. Ngôi mộ đã được giữ gìn trang nghiêm và được nhân dân khắp nơi về dâng hương tưởng nhớ hàng ngày.

Ban quản lý di tích tỉnh Kiên Giang đã làm hồ sơ  đề  nghị  Bộ Văn hóa  công nhận đình Nguyễn Trung Trực là di tích cấp quốc gia. Ngày 22/03/1988, Bộ Văn hóa đã quyết định công nhận đình thần Nguyễn Trung Trực, thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang là “ DI TÍCH LỊCH SỬ – VĂN HÓA MỘ VÀ ĐÌNH NGUYỄN TRUNG TRỰC ( 1838 – 1868 )” bằng Quyết định số :191.VHQĐ. Điều nầy là một vinh dự, đã nâng tầm đình thần Nguyễn Trung Trực lên thành một di tích cấp quốc gia, xứng đáng với tên gọi của Người là một “ ANH HÙNG DÂN TỘC “, được nhân dân phong tặng là một “ VỊ THẦN TRONG LÒNG NHÂN DÂN ”,  đồng bào các nơi nói chung và Rạch Giá nói riêng vô cùng phấn khởi và tự hào.

 

PHẦN BỐN

CÁC HẠNG MỤC TRÙNG TU – TÔN TẠO DI TÍCH

* Do khu nhà bếp của di tích xuống cấp nghiêm trọng, các cột bị hư mục, mái bị dột, không có nhà kho để chứa các vật phẩm do nhân dân hỷ cúng. Ban bảo vệ di tích đình quyết định xây dựng lại khu nhà bếp, nhà kho của đình, nằm phía sau Di tích. Công trình được khởi công ngày 25/7/2004.

Ban quản lý công trình gồm:

1- Ông Nguyễn Phước Hoa, chỉ đạo thi công.

2- Ông Ngô Văn Thuận, Trưởng ban.

3- Ông Mã Tài Mẫm, Phó trưởng ban.

4- Ông Đỗ Ngọc Minh, Ông Nguyễn Phước Lành, Bà Dương Thị Ngọc Dung làm Ủy viên.

5- Bà Lâm Thị Hồng Yến, Kế toán.

Thiết kế : Ông Nguyễn Phước Duy Đức.

Thi công: Ông Dương Ngọc Sỹ.

Kiến trúc kiên cố bằng bê tông cốt thép, có đổ một sàn bê tông , nhà một trệt, một lầu, mái lợp tôn. Cửa bằng khung sắt có tấm kính.

Công trình hoàn thành ngày 25/12/2004. Kinh phí: 634.730.850 đồng, do nhân dân đóng góp.

* Với sự hủy hoại của thời gian, mái ngói ngôi chánh điện, đông lang, tây lang bị hư dột nhiều. Ban Bảo vệ di tích đình quyết định trùng tu lại mái ngói cà 3 ngôi Chánh điện, đông và tây lang. Ngày 20/02/2007, Ban bảo vệ di tích đình làm lễ khởi công trùng tu mái ngói, thay thế một số đòn tay, rui bị hư mục. Ban quản lý trùng tu công trình gồm:

  • Ông Nguyễn Phước Hoa. Chỉ đạo thi công.
  • Ông Đỗ Ngọc Minh, Trưởng ban.
  • Ông Mã Tài Mẫm và Ông Trần Văn Út, Phó ban.
  • Ông bùi Văn Thành và Bà Dương Thị Ngọc Dung , Ủy viên.
  • Bà Lâm Thị Hồng Yến, Kế toán.

.  Các đơn vị thi công gồm:

  • Ông Dương Ngọc Sỹ.
  • Ông Trần Quang Hà.
  • Ông Hồ Văn Nhiều.
  • Ông Mai Văn Đại
  • Và lực lượng công quả trong và ngoài tỉnh.

Công trình hoàn thành vào ngày 20/7/2007. Kinh phí do nhân dân tự nguyện đóng góp có giá trị là : 871.523.700 đồng.

* Ngôi nhà cổ phía sau Di tích đã xuống cấp, cần phải trùng tu  để tạo nơi cho công quả nghỉ vào các dịp Lễ hội, đồng thời là nhà kho của đình. Nếu không trùng tu sẽ đổ sập, do đó, Ban bảo vệ di tích đình quyết định trùng tu.

Công trình khởi công ngày 19/6/2008.

Ban quản lý gồm :

1- Ông Nguyễn Phước Hoa, chỉ đạo thi công.

2- Ông Đỗ Ngọc Minh, Trưởng ban.

3- Ông Mã Tài Mẫm, Ông Trần Văn Út, Phó trưởng ban.

4- Ông Bùi Văn Thành, Bà Dương Thị Ngọc Dung, Ủy viên.

5- Bà Lâm Thị Hồng Yến, Kế toán.

6- Bà Nguyễn Thị Thanh Minh, Thủ quỹ.

Đơn vị thi công : Ông Dương Ngọc Sỹ.

Công trình đã thay toàn bộ đòn tay, thay mái tôn; tăng cường cột sắt gia cố các cột gạch cũ, thả đà sắt, lót ván gát để tăng diện tích chỗ nghỉ của công quả, làm hai cầu thang sắt để lên gát.

Công trình hoàn thành ngày 19/8/2008. Giá trị công trình: 485.755.500 đồng, do nhân dân đóng góp.

* Công trình xây dựng khu nhà lò, tạo điều kiện có nơi chỗ đàng hoàng cho việc nấu cơm phục vụ các dịp Lễ hội, tăng cường chỗ nghỉ cho công quả.

Khởi công ngày 15/4/2009. Ban quản lý gồm:

1- Ông Nguyễn Phước Hoa, chỉ đạo thi công.

2- Ông Đỗ Ngọc Minh , Trưởng ban.

3- Ông Mã Tài Mẫm, Ông Trần Văn Út, Phó trưởng ban.

4- Ông Bùi Văn Thành, Ủy viên Giám sát.

5- Bà Dương Thị Ngọc Dung, Ủy viên vận động.

6- Bà Lâm Thị Hồng Yến, Kế toán.

7- Bà Nguyễn Thị Thanh Minh, Thủ quỹ.

Đơn vị thi công : Cty TNHH tư vấn & xây dựng Thanh Anh.

Công trình bằng vật liệu kiên cố, nền móng, cột, đà, sàn bằng bê tông cốt thép, mái lợp tôn, cửa bằng sắt có khung kính. Phía dưới tầng trệt xây 20 lò nấu cơm thành hai dãy.

Công trình hoàn thành ngày 15/7/2009. Giá trị công trình: 690.992.100 đồng, do nhân dân đóng góp..

* Cùng theo thời gian, hàng rào cũ của đình bị hư hại nhiều, Ban bảo vệ di tích đình đã họp bàn, xin ý kiến của Lãnh đạo Sở Văn hóa – thông tin, tiến hành khảo sát nhiều nơi, tham khảo nhiều thiết kế, và tiến hành xây dựng lại hàng rào mới bảo vệ toàn bộ khu di tích. Công trình khởi công ngày 09/10/2011.

Ban quản lý công trình gồm :

  • Ông Đỗ Ngọc Minh, Trưởng ban.
  • Ông Mã Tài Mẫm và Ông Trần Văn Út , Phó trưởng ban.
  • Ông Bùi Văn Thành và Ông Nguyễn Hữu Nhân, Giám sát.
  • Bà Dương Thị Ngọc Dung, Ủy viên vận động.
  • Ông Nguyễn Văn Lực , phụ trách vật tư.
  • Bà Lâm Thị Hồng Yến , Kế toán.
  • Bà Diệp Thị Đông, Thủ quỹ.

Đơn vị thi công : Cty Tư vấn – Xây dựng Thanh Anh.

Hòa văn : Ông Đặng Quốc Hưng.

Công trình hoàn thành ngày 30/6/2012. Tổng giá trị công trình

:1.351.809.762 đồng, do nhân dân đóng góp.

* Công trình lát vĩ hè chung quanh đình, nhằm tạo vẽ mỹ quan, an toàn cho khách hành hương đến viếng đình, Ban bảo vệ di tích đã cho khởi công ngày 09/7/2012, với các Ông, Bà trong Ban quản lý công trình gồm:

1- Ông Đỗ Ngọc Minh , Trưởng ban.

2- Ông Mã Tài Mẫm và Ông Trần Văn Út, Phó trưởng ban.

3-  Ông Bùi Văn Thành, Ủy viên Giám sát.

4- Bà Dương Thị Ngọc Dung, Ủy viên vận động

5- Ông Nguyễn Văn Lực , ohu5 trách vật tư.

6- Bà Lâm Thị Hồng Yến, Kế toán.

7- Bà Diệp Thị Đông, Thủ quỹ.

Đơn vị thi công : Ông Ngô Đức Lập.

Công trình hoàn thành vào ngày 19/8/2012. Giá trị công trình: 260.755.000 đồng, do nhân dân đóng góp.

* Nhân kỷ niệm 54 năm ngày thành lập Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam – BIDV – ( 26/4/1957 – 26/4/2012 ), Ông Trần Bắc Hà, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Ngân hàng BIDV đã đại diện đến gặp gỡ Lãnh đạo tỉnh Kiên Giang, và Ban bảo vệ Di tích  đình có nhả ý đầu tư ngôi nhà trưng bày về thân thế và sự nghiệp của AHDT Nguyễn Trung Trực trong khuôn viên di tích, và được chấp thuận.

Ngày 23/6/2012, đã chính thức làm Lễ khởi công trang trọng có sự tham dự của nguyên Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Cộng trình xây dựng kiên cố, nền móng, cột, kèo, mái bằng bê tông cốt thép. Mái được ốp ngói âm dương trên mặt bê tông. Cửa bằng gỗ danh mộc. Chung quanh tường có khắc hoa văn. Có hành lang chung quanh. Kiến trúc theo kiểu ba gian, mái xuông.

Bên trong nhà trưng bày do Cty Mỹ Thuật thuộc Bộ Văn Hóa đảm nhận. Thiết kế tranh ảnh, hiện vật sưu tầm,và mô hình hai trận đánh lịch sử của cụ Nguyễn : Trận đốt tàu Espérance trên Vàm Nhựt Tảo và trận đánh đồn Kiên Giang.

Vào ngày 03/8/2013, Tỉnh Kiên Giang đã long trọng làm Lễ khánh thành nhà trưng bày về thân thế và sự nghiệp của AHDT Nguyễn Trung Trực, có sự tham dự của : Ông Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư ; Ông  Trung tướng Bùi Quang Bền, UV.BCH.TW Đảng, Thứ trưởng Bộ Công An; Ông Huỳnh Vĩnh Ái, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; các Ông, Bà Lãnh đạo nhà Tài trợ, Lãnh đạo tỉnh Kiên Giang, thành phố Rạch Giá và đông đảo nhân dân cùng tham dự.

Tổng giá trị công trình gồm :

– Giá trị xây dựng cơ bản:

– Giá trị trang trí nội thất: 1.279.552.000 đồng, do nhân dân đóng góp.

–  Giá trị lát sân trước nhà trưng bày: 325.157.000 đồng. do nhân dân đóng góp.

* Vào tháng 11/2013, Ban bảo vệ di tích đình quyết định thay thế toàn bộ cửa chính, các cửa phụ, cửa sổ của ngôi chánh điện, bằng cửa cây danh mộc, có trạm trỗ hoa văn, đánh bóng vẹc ni…Tổng giá trị : 299.379.000 đồng.

* Nhằm tôn tạo và tăng thêm tính trang nghiêm trong ngôi chánh điện, Ban bảo vệ di tích đình đã quyết định thay một bao lam tại võ qui, và làm thêm 03 bao lam tại 2 khu vực võ qui và võ ca của chánh điện. Đây là những bao lam được trạm trỗ cẩn trọng, và được sơn son thếp vàng , do các nghệ nhân ở Chợ Thủ, Chợ Mới, tỉnh An Giang thực hiện. Công trình được thực hiện vàotháng 02/2015, với giá trị 192.000.000 đồng, do nhân dân hỷ cúng.

* Công trình lắp đặt hai tảng đá lớn nhằm giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ trẻ về lòng kiên trung, khí phách của Cụ Nguyễn trước mặt kẻ xâm lược.

Một ở vị trí phía trước mộ Cụ Nguyễn, đặt trên bồn hoa cạnh góc me, ghi lại câu nói đầy khí tiết của cụ Nguyễn trước mặt tên Thống soái Nam Kỳ Ohier : “ Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”.

             .Một đặt vị trí cạnh cột cờ của đình trên bồn hoa trồng cây đa, ghi lại bài thơ tuyệt mệnh của Cụ Nguyễn trước giờ ra pháp trường:

Thư kiếm tùng nhung thuở thiếu niên

Yêu gian đởm khí hữu long truyền

Anh hùng nhược ngộ vô dung địa

Bão hận thâm cừu bất đới thiên.

Đây là hai công trình có tính lịch sử, gắn liền với tên tuổi của Người anh hùng dân tộc trong nửa đầu thế kỷ XIX. Một người con đầy tình yêu thương với dân với nước, và đã đi vào lòng dân, thấm đượm tinh thần bất khuất của một dân tộc. Ông đã được đồng bào của Ông kính cẩn, tôn trọng, yêu thương; và được đồng bào của Ông tôn là một vị “ THẦN “, trở thành bất tử và luôn ở trong tâm của mọi người dân.

Công trình khởi công : 03/5/2018 .  Khánh thành ngày 17/6/2018

Tổng giá trị công trình là : 90.000.000 đồng, do nhân dân đóng góp.

PHẦN NĂM

BỨC ẢNH CHÂN DUNG ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN TRUNG TRỰC

CÓ TỪ BAO GIỜ.

Bức ảnh chân dung anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực đang thờ tại Di tích lịch sử – Văn hóa mộ và đình Nguyễn Trung Trực ( Di tích cấp Quốc gia), tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang và nhiều  nơi khác; đặc biệt trong nhiều gia đình người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long, bức chân dung của Cụ Nguyễn được thờ chung  với bàn thờ gia tiên ( Cửu huyền thất tổ). Điều nầy chứng tỏ, cùng với đất nước và dân tộc, anh hùng Nguyễn Trung Trực bất tử trong lòng nhân dân. Nhưng cho đến nay, ít người biết bức ảnh chân dung Cụ Nguyễn Trung Trực có từ khi nào và ai đã vẽ nên bức chân dung ấy?

Trong một nghiên cứu về những nhân vật lịch sử của Nam bộ, nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, hội viên Hội Văn học dân gian Việt Nam, hiện sinh sống tại phường Đông Hồ, thị xã Hà Tiên, đã công bố một tài liệu đáng tin cậy về bức ảnh chân dung nầy. Theo Ông Trương Minh Đạt, trước năm 1949 – 1950, không có một quyển sách nào có đăng bức ảnh nầy của Cụ Nguyễn Trung Trực cả, mà “ bức ảnh mọi người biết hôm nay thực sự mới xuất hiện khoảng năm 1951 – 1952. Tấm ảnh do một tờ báo ở Sài gòn in dưới dạng tờ phụ bản tặng cho bạn đọc”. Đó là việc xác nhận thời gian xuất hiện tấm ảnh Cụ Nguyễn Trung Trực. Còn tấm ảnh ấy từ đâu có và ai vẽ ra?

Tham khảo rất nhiều tư liệu và chính người anh ruột của mình là ký giả Lư Khê ( Trương Văn Em ), chủ báo ánh sáng năm 1950, một trong những tờ báo mang tinh thần dân tộc và đấu tranh mạnh mẽ chống bọn thực dân, sau cái chết của trò Trần Văn Ơn, ông Trương Minh Đạt trích từ Địa chí Văn hóa thành phố Sài gòn: “ từ giữa năm 1950 đến giữa năm 1951, khủng bố của chính quyền Sài gòn ngày thêm ác liệt. Phong trào báo chí cũng như phong trào đấu tranh  của nhân dân thành phố tạm lắng xuống. Anh chị em ký giả yêu nước, cách mạng chuyển sang một cách đấu tranh mới, gọi là gián tiếp, nghĩa là phải dùng dã sử, lịch sử ngày xưa, dùng Văn học nghệ thuật đưa đấu tranh chính trị trở lại sách báo, trở lại học đường…”.

Chủ báo Ánh Sáng Lư Khê bị địch ám sát tháng 7/1950, trước đó đã có hai ký giả bị ám sát. Các báo bắt đầu làm một cuộc đấu tranh mới. Báo Sài gòn mới cho in phụ bản tờ rời  có hình Trưng Nữ Vương, hình Ngô Quyền thắng trận Bạch Đằng của họa sĩ Lê Trung; nhóm Tin Điền, Tiếng Dội cho in tranh của Tú Duyên vẽ Trần Bình Trọng với câu nói: “ Thà làm quỹ nước Nam hơn làm Vương đất Bắc”; hi2ng Nguyễn Trãi – Nguyễn Phi Khanh với câu nói:” Thương cha con hãy co cho nước…”. Trong dịp nầy, các phụ bản có ảnh Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân, Trương Định, Hoàng Hoa Thám, và Nguyễn Thị Giang ( Cô Giang ) ra đời.

Các tờ phụ bản có hình ảnh và lời nói của các nhân vật lịch sử, anh hùng chống ngoại xâm, đã được nhân dân đón nhận nồng nhiệt. Họ đã viết thư về các báo nêu thắc mắc về gốc tích các bức ảnh. Ông Trương mInh Đạt viết: “ Tôi không thể thể nào quên được câu trả lời của Tòa soạn báo ấy như sau: các vị anh hùng đó đã là những gương sáng, đáng được toàn dân ghi nhớ thành tích chiến đấu dũng cảm hy sinh chiến đấu chống ngoại xâm. Vì thế nhà báo đã nhờ  họa sĩ vẽ hình lại. Về nguồn gốc cái hình Nguyễn Trung Trực thì họa sĩ giải thích rằng: Ông đã mô phỏng dựa theo những anh hùng khác mà vẽ lại: mũi, tai, miệng của Phan Đình Phùng; đôi mắt của Thủ Khoa Huân; ria mép của Đề Thám; cái gương mặt nhìn chung là dáng của một nông dân miền Nam”. Ông Đạt giải thích thêm: “ chúng tôi tiếc, bây giờ tờ báo trên đã thất lạc. Ghi lại theo trí nhớ, có thể sai lệch đôi chút:.

Khi đang dạy tại trường Trung học Hà Tiên, ông Trương Minh Đạt tham gia buổi hội thảo về phương pháp dạy môn lịch sử năm học 1958 – 1959, ông viết: “ có nhiều câu hỏi đạt ra : có nên sử dụng ảnh Nguyễn Trung Trực  hiện tại để treo trên tường hay thuyết minh cho bài sử ký liên hệ đến trận đánh đồn Kiên Giang?  Có ý kiến nói không nên, vì đó không phải ảnh Nguyễn Trung Trực thật.”

Từ buổi thảo luận ấy, đến năm 2008 nầy đúng 5o năm, nhân kỷ niệm lần thứ 140 ngày hy sinh của người anh hùng chống Pháp Nguyễn Trung Trực, với lòng ngưỡng mộ sâu sắc, ông Trương Minh Đạt bày tỏ quan điểm của mình:

“ Hãy xem các đình, chùa, mie61ui mạo của các tôn giáo và tín ngưỡng lớn như Phật, Thiên Chúa giáo, Khổng, Lão, ở đâu có được hình ảnh đúng người thật/ Tất cả hình ảnh đã được trừu tượng hóa, mô phỏng, do các họa sĩ, nhà điêu khắc sáng tác. Chính đó là biểu tượng của sự thành kính và nơi đó lòng tôn thờ vươn tới…Thế thì với tấm ảnh mà mọi người bày tỏ sự sùng kính yêu mến ở đình thờ Nguyễn Trung Trực hiện nay, trong đó có tiềm ẩn khí tiết Phan Đình Phùng, Nguyễn Hữu Huân, Hoàng Hoa Thám hay của tất cả những người nông dân miền Nam anh hùng! Chỉ tiết một điều, ta không còn có được một hình ảnh thật của Nguyễn Trung Trực mà thôi.”

Từ trước đến nay, bằng niềm tự hào và ngưỡng mộ, kính yêu người anh hùng đã làm nên những chiến công bất tử, đang có tấm ảnh thờ trông cứng tuổi hơn cái tuổi 30 lúc hy sinh, nhiều người cũng thắc mắc, nay nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt đã cung cấp thông tin mới nầy , để chúng ta càng thấy giá trị bức ảnh lớn lao hơn. Nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt cho biết nghiên cứu của Ông đã được công bồ, và cho rằng bức ảnh Cụ Nguyễn Trung Trực đang thờ hiện nay tại Di tích đình Nguyễn Trung Trực và các nơi khác là bức ảnh có giá trị lịch sử và nghệ thuật.

 

Viết xong, mùa thu năm Mậu Tuất- 2018.

Nguyễn Phước Hoa