SƠ KHẢO VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN TRUNG TRỰC

 SƠ KHẢO VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA

ANH HÙNG DÂN TỘC NGUYỄN TRUNG TRỰC

—O0O—

 

LỜI NÓI ĐẦU

 

Kính thưa quí đọc giả, các nhà nghiên cứu, các nhà lịch sử thân mến,

Việc tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực là một công việc khó khăn, vì Người anh hùng dân chài không được lịch sử ghi chép đầy đủ, chúng ta phải góp nhặt tư liệu từ nhiều nguồn, trong đó có cả truyền thuyết dân gian, do đó, có thể nói rằng việc “ góp nhặt cát đá “ về cuộc đời và sự nghiệp của Cụ Nguyễn không thể nói là đầy đủ, cần phải có nhiều người đóng góp từ nhiều nguồn khác nhau, bổ sung cho nhau, ngõ hầu từng bước được hoàn chỉnh.

Trong việc tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở đây, chúng tôi chỉ dám mạo muội dùng từ “ sơ khảo”, rất mong quí đọc giả, các nhà nghiên cứu và các nhà lịch sử thông cảm và bổ sung giúp cho phần tư liệu nầy được đầy đủ hơn.

Xin trích đoạn cuối lời nói đầu của hai nhà văn Sơn Nam và Ngọc Linh trong quyển Nguyễn Trung Trực xuất bản năm 1959  như sau: “ …Chúng tôi ao ước rằng tập sách nhỏ mọn nầy- một bản sơ thảo- sẽ được hân hạnh lọt vào tay một đọc giả yêu thích lịch sử, và biết được nhiều sử liệu quí báu về đời tư của liệt sĩ Nguyễn Trung Trực. Như vậy, chúng ta cùng góp sức để ngày càng gần sự thật hơn. Và có lẽ sự thật sẽ hứa hẹn nhiều tình tiết hùng tráng, gay cấn hơn những mẫu chuyện phi thường mà ta thường suy luận. “

Là người trưởng thành tại vùng đất Rạch Giá linh thiêng, đã biết và hiểu được một phần tâm linh của người dân Rạch Giá, muốn góp phần ghi lại một giai đoạn lịch sử của Người Anh hùng dân tộc được nhân dân phong tặng và ngưỡng mộ trước tấm long “ Kiên – Trung – Hiếu – Nghĩa” của Người, chúng tôi xin mạo muội sơ khảo ghi lại từ một số nguồn tư liệu về “ cuộc đời và sự nghiệp “ của một Người con của dân tộc đã làm nên một phần lịch sử trong giai đoạn đầu chống thực dân Pháp tại vùng đất gọi là Nam kỳ.

Nhận thấy việc làm của mình còn nhiều thiếu sót, rất mong sự thông cảm, vì đây là việc làm cần thiết, nhằm tránh đi sự  thất truyền đáng tiếc, để hậu thế có thể hiểu được một thời kỳ đấu tranh gian khổ của cha ông trong việc bảo vệ độc lập dân tộc, nhất là cuộc đời và sự nghiệp của Người anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực trong thời gian kháng chiến chống thực dân Pháp trên vùng Đồng bằng sông Cửu Long của miền Nam đất nước.

 

 

Rạch Giá, mùa xuân Mậu Tuất (2018)                                                           Nguyễn Phước Hoa

( Phó ban bảo vệ di tích Lích sử – Văn hóa

Đình Nguyễn Trung Trực, Tp. Rạch Giá)

 

PHẦN MỘT

THỜI NIÊN THIẾU CỦA CỤ NGUYỄN TRUNG TRỰC

 

Hiện nay, khi nói về tiểu sử Cụ Nguyễn có nhiều nguồn khác nhau, nhưng nghe nói như vậy, chẳng có thấy một lời nào cải chính, làm cho chúng ta chẳng biết vịnh vào đâu mà quả quyết. Có người nói:

  • Cụ Nguyễn là người Bình Định .
  • Cụ Nguyễn sinh quán tại Tân An phủ, thuộc tỉnh Định Tường.
  • Cụ Tên là Nguyễn Trung Trực.
  • Cụ tên là Nguyễn Văn Lịch tự Chơn, còn tên Nguyễn Trung Trực là phương danh ( ?).

Ai nói phải ???                   Ai nói trúng ???

Theo tìm hiểu của chúng tôi, Ông Nguyễn Văn Khoa, sinh ngày 23/6/1909,  tại Vĩnh Thanh Vân, thị xã Rạch Giá, Kiên Giang.cho biết: ngày 11/4/1970, Ông Mã Sanh Long, Hội trưởng Hội đình thần Nguyễn Trung Trực cho biết để tìm một thân nhân trong giòng họ Cụ Nguyễn là :

Ông Nguyễn Văn Thơm tự Thôn, chủ hiệu bán cây ván hiệu Nguyễn Thành số 259 đường Minh Mạng , Chợ Lớn.

Ngày 19/4/1970, Ông Khoa đi lên Sài gòn tìm Ông Thơm, và được Ông Thơm đưa đến chủa Sùng Đức, số 136 đường Lục Tỉnh ( Chợ Lớn). Ngày 20/4/1970 được Thầy Nguyễn Văn Đức, pháp danh Thích Thiện Phước ân cần tiếp đón, và được thầy cho biết Sư Cụ Nguyễn Văn Cậy, pháp danh Thiện Nghiêm là người gọi Cụ Nguyễn Trung Trực bằng chú. Nhưng rất tiếc Sư Cụ đã viên tích năm 1961( Nhâm Dần), thọ 66 tuổi. Song, thầy Thích Thiện Phước sốt sắn cho người về xã Bình Nhựt, quận Bến Lức ( tỉnh Long An bây giờ) để hỏi lại bà con thân quyến, và ngày 21/4/1970, Thầy có trao cho một bảng ghi rõ gia phả nhà họ Nguyễn, xin ghi lại nguyên văn để bạn đọc dùng làm tài liệu tham khảo.

 

TIỂU SỬ CỦA CAO TỔ NHÀ HỌ NGUYỄN

 

Cuối đời nhà Lê, có cuộc cách mạng của Tây Sơn, nổi lên ở xứ Bình Định ( Qui Nhơn), do ba anh em nhà Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ lãnh đạo, người đời dời đổi, vì vậy hai Cụ Cao tổ họ Nguyễn là Ông Nguyễn Văn Đạo và Ông Nguyễn Văn Chong ( hai anh em ruột) đem gia quyến vào Nam kỳ lánh nạn.

Hai Cụ vào cư ngụ tại Tân An phủ, Cửu An huyện, xã Bình Nhựt khai khẩn đất đai làm ăn ( mồ hai Cụ hiện còn tại làng Bình Nhựt ).Đất đai khai phá làm ruộng để lưu lại cho con cháu hai sở ruộng “ hương quả” tại làng Bình Nhựt, và còn đất thổ cư chia cho mỗi chi một phần để ở. Hai Cụ còn cúng cho làng sở tại “ công điền”, hiện giờ còn trong làng nói trên.

Ông Nguyễn Văn Đạo  và Bà ………………………….( hạ sanh )

Phái             1- Nguyễn Văn Ngợi

2- Nguyễn Văn Tường

3- Nguyễn Văn Phụng

4- Nguyễn Văn Qưới

5- Bà Chín……….

—-o0o—

Ông Nguyễn Văn Ngợi ( mất ngày 24/9  Âl )

Bà Lương Thị Bảy  ( mất ngày 20/4 Âl ), Bà có phần hương quả của Ông bà để lại 0h64, hiện còn tại làng Bình Đức ( mã của Ông bà tại làng Bình Nhựt ). Hạ sanh:

Thứ hai :      Bà Hai.

Ba :     ………….

Tư :     ………….

Năm:  …………

Sáu :    Nguyễn Văn Thi

Bảy :    Nguyễn Văn Sơn ( chết hồi còn nhỏ)

Tám:    Nguyễn Văn Đeo ( con là cô Tư Nở )

—-o0o—-

Ông Nguyễn Văn Phụng, hạ sanh:

– Ông Nguyễn Văn Lịch, bí danh Nguyễn Trung Trực ( Người kháng chiến chống Pháp, đốt tàu Pháp tại vàm Nhựt Tảo, và chiếm đồn Pháp tại Kiên Giang. Pháp bắt được tử hình…..)

– Ông Nguyễn Văn Hòa hạ sanh Nguyễn Văn Quân.

– Bà Tư Đạt hạ sanh Nguyễn Văn Tế.

—o0o—

Phụ ghi: Bản gia phả nầy, chúng tôi xin trích nguyên văn )

 

Qua tài liệu trên, gia đình nội tổ của Cụ Nguyễn Trung Trực vào Nam trong thời kỳ loạn Tây Sơn, có nghĩa là trước ngày Pháp tấn công Nam kỳ.

Hai chữ “ vào Nam” hàm xúc ý nghĩa là nguồn gốc Cụ Nguyễn là người Bình Định ( miền Trung ), và Cụ sinh ra tại Tân An phủ, Cửu An huyện, xã Bình Nhựt ( Định Tường).

—o0o—

 

Cụ Nguyễn tên thật là Nguyễn Văn Lịch, tự chơn, sinh khoảng năm 1838 ( Mậu Tuất ), tại Bình Nhựt, huyện Cửu An, phủ Tân An ( nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An ); nguyên quán ở tỉnh Bình Định.

Thuở thiếu thời, gia đình nghèo, Cụ Nguyễn phải vừa làm nghề ruộng, vừa làm nghề chài lưới để kiếm sống, nuôi gia đình , lúc rãnh rỗi thì cùng thanh niên trai tráng trong làng luyện tập võ nghệ với Ông Thầy Sáu, một nhà giáo đồng thời là một võ sư theo môn phái Ngô Kha, quê Bình Định, chạy loạn Tây Sơn vào Nam, đổi họ tên, định cư ở đất Tân An, mở lớp dạy võ và chữ Thánh Hiền, vì theo ông văn – võ phải đi đôi với nhau.

Tuổi trưởng thành của Cụ Nguyễn đúng lúc nước nhà bước vào giai đoạn ngặt nghèo bi thảm nhất. Vận mệnh dân tộc như ngàn cân treo sợi tóc, kẻ thù là bọn thực dân Pháp có thế lực hùng mạnh và trang bị hiện đại.

Năm 1856, vào một buổi sáng tinh sương, bổng Lịch nghe kêu cứu từ chiếc ghe chài bên kia sông vọng lại: cướp, cướp! không chút chần chừ, Lịch chèo nhanh sang chiếc ghe chài, chàng trai tự tin nhảy vọt lên mũi ghe chài, với những miếng võ điệu nghệ, đã hạ hết toán cướp do tên Sáu Bảnh và Tư Hổ cầm đầu. Trước lời cầu khẩn thành thật, Lịch đã tha cho Sáu Bảnh và Tư Hổ, rồi nhảy xuống chiếc tam bản lao ra xuôi theo dòng nước, bỏ lại ông chủ ghe đứng nhìn theo với vẻ mặt xúc động, biết ơn…

Vào một buổi sáng sớm tại sân đình làng, tiếng trống thúc giục dân làng đi xem võ đài để tuyển chọn nhân tài dưới sự chứng kiến của quan Lãnh binh Trương Định và các bậc kỳ lão trong làng. Trong nhóm võ sinh có Huỳnh Công Tấn, sau khi biểu diễn xong được người xem cổ vũ hoan hô, Trương Định gật gù tán thưởng và quay sang thầy Sáu nói: “ thằng nầy chắc mai sau sẽ làm nên sự nghiệp đây!.  Đến phần xướng tên Lịch, tiếng hoan hô lại vang lên…nhứt là động tác xoay mình đá “ liên hoàn cước” hết sức đẹp mắt và lợi hại, khiến Trương Định vỗ tay khen : “ hay lắm, tuyệt lắm!” . Đây là cuộc hội ngộ đầu tiên giữa hai con người anh hùng của nhân dân vùng đất lịch sử đồng bằng sông Cửu Long trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược thực dân Pháp cuối nửa thế kỷ XIX .

Cuộc thí võ chuyển sang đấu đối kháng. Tiếng trống vẫn nổi lên từng hồi thúc giục, …, đến lượt Lịch thi đấu đối kháng với Huỳnh Công Tấn…Tấn quyết chứng minh mình có thể hạ được Lịch cho thiên hạ biết mặt, trái lại, Lịch cũng biết Tấn sẽ không nương tay với những miếng đòn hiểm…Đúng là một cặp “ lưỡng hổ tranh hùng” . Nhưng rồi Tấn có vẻ thấm mệt , thế rồi sau khi né cú đá nghịch của Tấn, Lịch nhẹ nhàng hạ Tấn bằng một thế võ của chàng sáng tạo và dầy công khổ luyện. Nét mặt của Tấn có vẻ sượng sùng, nhưng Lịch đã nói khẽ “ xin lỗi nhé” . Trương Định hết sức hài lòng.

…Lịch đang ngồi với Huỳnh Khắc Nhượng, Nguyễn Văn Quang, Cầm, Vàng, Móm..trên bải cỏ nghỉ giải lao sau buổi luyện tập ở sân đình. Quang hỏi: sao mấy hôm nay không thấy Tấn tập với anh em mình? – Tấn xin nghỉ vài hôm đi Sài gòn có chuyện riêng gia đình. – Dạo nầy không thấy Tấn hăng hái luyện tập, không biết có chuyện gì không ? – Tôi thấy có đó! Hôm đấu võ xong, tôi thấy Tấn hơi buồn đó. – Mình cũng chẳng để ý. Thôi đến giờ tập rồi, Lịch nói: chú Quang nhớ dạy cho anh em đánh cận chiến, dùng tay không cướp binh khí giặc. Cuối buổi tập, anh em quây quần, Lịch nói: Bữa nay tập vậy là được rồi. Anh em mình trong mùa lúa nầy, chủ yếu là giúp cho bà con vùng mình thu hoạch hết cho gọn. Ngày mai bắt đầu giúp từ nhà cậu tám, còn việc luyện tập tụi mình tập ban đêm, trời trăng này, tập ngoài ruộng mát lắm! thôi giải tán…

Riêng Tấn lên Sài gòn, đến nhà người chú, được giới thiệu với Biện Chín làm thông ngôn cho quan Tham tán quân vụ người Pháp, được Biện Chín dụ dỗ, khen ngợi tướng mạo Tấn là “ ngọc ẩn non Côn, vàng chìm sông Lệ”, tương lai hậu vận sẽ thành đạt vinh hiển, nếu biết nắm lấy thời cơ..Tấn vui mừng và rất sẵn sàng…lão Biện cười ha hả, và lão sẽ lôi kéo Tấn vào con đường phản bội dân tộc khi có dịp sau nầy…

 

NGUYỄN TRUNG TRỰC ĐƯỢC PHÉP THÂN MẪU

CHO GIA NHẬP NGHĨA DÕNG ĐOÀN.

 

Cụ Nguyễn Trung Trực lúc thiếu thời ở với mẹ rất hiếu thảo, chăm lo làm ăn, tuy mới 18 tuổi mà xử sự rất hoạt bát, khôn khéo như người lớn tuổi. Bà Tư rất bằng lòng đứa con trai của mình, có điều Bà rất nghi ngại là Lịch vốn ít nói, gần đây còn trầm mặc hơn; nhất là từ hồi có một đám giặc biển tới giết chóc và đốt nhà trong các xóm ven sông Vàm cỏ; Bà chắc rằng Lịch buồn vì thiếu bạn bè, những thằng Móm, thằng Vàng, thằng Cầm đều kéo nhau gia nhập vào đội nông binh của tướng Đổ Quang Vinh ( là vị tướng dưới sự Lãnh đạo của Ông Trương Định) ở Vũng Gù hết cả.

Ừ, thằng Cầm, thằng Nguyễn Văn Cầm, là một đứa bạn chí thân của Lịch cũng ra đi, trách nào Lịch không buồn sao đặng?…Bà Tư đoán vậy thôi, chớ không hỏi Lịch, sợ e lại làm cho con buồn thêm.

Đôi mắt mờ của Bà Tư bị thôi miên vào ngọn lửa trong bếp, nhảy múa như muôn ngàn ánh hào quang, trông có một vị nữ Phật ngồi trên tòa sen, hương tỏa bát ngát, mĩm cười một nụ cười lành. Lịch từ ngoài chạy vào, làm Bà Tư giựt mình…

Khoanh tay, cúi đầu, ngẫng nhìn mẹ, nói :

– Mẹ tha tội cho con, bởi mê coi mấy chiếc tàu Tây khiến mẹ nóng lòng chờ đợi.

– Cháo chín nãy giờ, để mẹ múc cho con ăn kẻo đói. Tàu với Tây gì kệ nó, con xớ rớ lại gần rồi đây có ngày mang hại. Con không thấy vụ hôm đó rồi sao?

Lịch đứng ngây người ra nhìn mẹ dọn cháo, và khi chiếc mâm gỗ đặt lên bộ ngựa đàng trước, một giọt nước mắt trong veo như giọt sương sớm đã lăn trên má. Lịch hốt hoảng đưa tay lên quẹt phăng đi, nhưng đôi mắt chu đáo của người mẹ đã bắt gặp.

  • Sao con lại khóc?

Lịch vội vàng đến quì rạp bên chân mẹ giọng van nài: “ Xin mẹ cho phép con ra đầu quân đánh giặc. Con đã nghĩ kỹ lắm rồi, con không thể ngồi yên đây để nhìn bà con xóm giềng bị hà hiếp, bị giết và bị bắt làm toi mọi. Giặc đã đến bên đít kia rồi, lạy mẹ cho con đi…

Bà Tư ôm Lịch, lặng đi một giây lâu, mới thốt nên lời:

– Nhà mình thuở giờ nghèo nàn, nhưng cũng biết được đôi ba chữ của Thánh hiền, mẹ không thể ép con  vì một chữ hiếu nhỏ mọn mà mất điều nghĩa lớn với Nước nhà…Thôi, con cứ ăn cháo đi đã, rồi đi mà lập công với chúng bạn, mẹ ở nhà hẩm húc cháo rau cũng vui chớ có sao đâu?…

Lịch mừng quá hóa no, nhưng phải nuốt hết vài chén cháo cho hả lòng mẹ hiền…

 

NGUYỄN TRUNG TRỰC THEO TRƯƠNG ĐỊNH

THAM DỰ TRẬN ĐÁNH BẢO VỆ ĐỒN KỲ HÒA.

 

Sau khi Trương Định nhận chỉ thị của Thống đốc quân vụ đại thần Nguyễn Tri Phương, ông đi tới đi lui suy nghĩ, cuối cùng ông quyết định triệu tập các đơn vị quân triều đình và các đội nông binh do ông tổ chức ở khắp các tỉnh Tân An và Định Tường để tham gia chiến đấu bảo vệ Sài gòn –Gia Định.

Năm 1861, Đô đốc Charner được phong làm Tổng chỉ huy quân lực Pháp ở Viễn Đông, kiêm Đại sứ đặc mệnh của Chính phủ Hoàng gia Pháp , có toàn quyền chỉ huy tấn công xâm lược lục tỉnh Nam kỳ. Hắn quyết định ngày 24/02/1861, chúng sẽ đồng loạt tấn công đại đồn Kỳ Hòa, sẽ chiếm toàn bộ Sài Gòn – Gia Định, giờ khai hỏa sẽ là lúc 4 giờ sáng.

—o0o—

Lịch  nai nịch gọn gàng cùng đoàn nông binh đang tập họp trước sân đình, chỉ trang bị thô sơ gồm dáo, mác, dao phay, tầm vong vạt nhọn, chỉ huy thì đeo mỗi người một thanh gươm. Lịch nói: các anh em, theo lệnh của quan Lãnh binh, đội nông binh của chúng ta sẽ lên đường tham chiến cùng với quân triều đình chống bọn giặc Phú- lang –sa  sắp tấn công vào đại đồn Kỳ Hòa ở Sài gòn –Gia Định. Chúng ta phải có mặt ở Sài- gòn trước khi trời tối, để kịp bày binh bố trận đối phó với giặc. Đây là dịp để anh em báo ơn vua, đền nợ nước, đánh cho lũ giặc Tây dương biết mặt dân Nam ta. Đang đi, Lịch phát hiện trong vườn cây bên đường có mấy người nai nịch gọn gàng cầm đao, kiếm chạy ra đón đầu đội. Thì ra là Sáu Bảnh, Hai Hổ ( là hai tên cướp được Lịch tha cho lúc trước) và một số anh em chừng một tiểu đội, đến quyết tâm xin theo đoàn nông binh đi đánh giặc. Lịch vui mừng và cho xếp vào đội hình. Lịch dẫn đầu lại tiếp tục hành quân nhắm về hướng Sài gòn bước nhanh qua cánh đồng phía trước…

Bây giờ, Lịch cùng với Sáu Bảnh ngồi trên bãi cỏ ven con rạch nhỏ, sau khi cho anh em tạm nghỉ nhờ nhà dân để lo cơm nước. Sáu Bảnh kể chuyện thời gian vừa qua, đã cùng anh em tấn công đồn giặc trong chùa Khải Tường bằng cách giả dạng phu kéo xe gạo giao cho tên đại úy Parbet, đã giết tên Parbet, và tiêu diệt một số tên giặc nằm la liệt góc sân đồn, đồng thời phóng hỏa kho chứa tạm lúa gạo phía sau sân chùa. Sau đó, chúng tôi định rút về Gò Công, nhưng trên đường đi, nghe tin các anh lên tiếp ứng đồn Kỳ Hòa, nên tụi tui băng đồng để theo kịp các anh đi đánh giặc…

Đoàn nông binh do Lịch chỉ huy tiếp tục hành quân về hướng Sài gòn –Gia Định với khí thế sẵn sàng chiến đấu chống quân xâm lược…

Đại bác liên tục nổ dữ dội vào tuyến phòng thủ đại đồn Kỳ Hòa. Khói lửa bao trùm chiến lũy kéo dài hàng cây số. Những mảng chiến lũy  bị đạn đại bác nổ tung xé ra, cây cối, gạch đá bay rào rào. Quân Pháp điều cánh quân, một do đại tá Wasean chỉ huy phối hợp với cánh quân do đại tá Palenka chỉ huy, chia làm hai mũi gọng kềm tiến về phía Tây Nam đại đồn. Bọn lính Pháp có bọn ma ní, mã tà tham gia, vừa bắn súng trường, vùa la hét tiến về vị trí đồn tiền tiêu của quân triều đình, khí thế chúng rất hiên ngang, kiêu ngạo, coi như sắp đè bẹp quân ta đến nơi…

Ở chiến lũy triều đình, sau loạt đại bác địch bắn đồng loạt liên tục gây ra thương vong lớn, viên chỉ huy bị thương nặng, viên chỉ huy phó vội cầm lá cờ vừa quơ vừa hô lớn “ tiến lên! Giết hết bọn Tây dương! Tiến lên anh em! ..chưa dứt lời thì bị trúng đạn ngã lộn xuống chiến lũy…Đồng thời, tiếng hô “ xung phong” của bọn lính Pháp đã vang rền….Cùng lúc đó, đội nông binh của Lịch vừa đến kịp. Chàng vung kiếm chém gục tên lính Pháp cao to nhảy vào đầu tiên, những tên chạy vào sau đã bị Cầm, Nhượng, Quang…xong tới chém chết tại chỗ. Tiếng hô “ Giết hết bọn Tây dương !” vang rền của đội nông binh nổi lên. Những thanh mã tấu, dáo, mác, tầm vong vạt nhọn của các chiến sĩ trẻ xông vào đánh giáp lá  cà với địch…Ở cánh quân khác, bọn Pháp đã thọc sâu vào trong chiến lũy. Quân triều đình và đội nông binh do Tấn chỉ huy đã liều mình chống đỡ…được cánh Sáu Bảnh và Tư Hổ đã tới hổ trợ kịp thời..họ vừa vung đao, kiếm, vùa thét to, xông vào lũ giặt đâm ngang, chém dọc khiến cho lũ mã tà, ma ní theo sau là quân Pháp kinh hồn, vỡ mật..Tư Hổ lao đến viên đại tá, thanh mã tấu của Tư Hổ chém trúng cánh tay của Palenka, khẩu súng lục trong tay hắn rơi ra. Tư Hổ toan chém nhát thứ hai thì bị trúng đạn, ngã gục xuống…Ở mặt trận phía đồn tiền tiêu, nơi trận đánh giáp lá cà vẫn diễn ra dữ dội. Lịch với lưỡi kiếm trong tay tả xung hữu đột…tên võ quan Pháp vung kiếm chém từ  phía sau, nghe tiếng kêu, Lịch vội lách mình né được lưỡi gươm, đồng thời tung một cú đá làm bay gươm của tên nầy, hắn vội quay đầu chạy, nhưng Quang kịp lao tới vung kiếm chém vào đầu hắn…hắn từ từ ngã lộn về phía sau…Cuộc hổn chiến kéo dài gần tới trưa, bọn Pháp vừa đánh, vừa rút lui với một thiệt hại khá nặng nề.

Phía mặt trận của đại tá Palenka, quân giặc đã tràn vào trong chiến lũy, quân triều đình đã rút vào phía trong. Huỳnh Công Tấn núp sau chiến lũy bị sụp đổ, cây gạch ngổn ngang còn cay xè mùi thuốc súng…trận xáp lá cà vừa qua khiến Tấn mất tinh thần…Bổng trông tâm trí hắn, hình ảnh Biện Chín với những lời đường ngọt hiện ra. Hắn quyết định phải thoát khỏi nơi nầy, càng nhanh càng tốt, hắn lách mình ra khỏi chỗ trốn, chạy thục mạng , nhanh hơn con cáo bị săn đuổi.

Đêm dần xuống phủ bóng tối mênh mông trên khắp trận địa, ở một góc sân, dưới gốc cây to lỗ chỗ vết đẹn, Lịch ngồi nói chuyện với Nhượng, vẻ mặt đâm chiêu, lo lắng. Ngày mai, chắc chắn chúng sẽ đánh lớn để chiếm cho được đại đồn Kỳ Hòa. Không biết quan Thống đốc quân vụ có kế hoạch đối phó chưa, chớ nếu để bị động chống đỡ như hôm nay, e không giữ nỗi! Bổng Lịch hỏi giọng lo lắng: Có ai thấy Tấn đâu không ? này Nhượng, mình có đem được hết anh em bị thương đưa vế phía sau không? Có chớ anh, nhưng không thấy thằng Tấn ở chỗ đó…Không lẽ nó bị giặc bắt? Không biết nó còn sống hay hy sinh rồi…

Trong khi đó, Huỳnh Công Tấn đang ở nhà ông chú họ, và có cuộc gặp gỡ riêng với tên Biện Chín tại một phòng được bố trí kín đáo. Sau khi thỏa thuận, Biện Chín nói: trước hết, bác sẽ giới thiệu cháu với ông đại úy Phú –lang- sa, phụ trách dọ thám, ông ta sẽ cho cháu biết công việc phải làm, cũng như cháu ký giấy cam kết phụng sự cho quân đội viễn chinh Pháp, sau đó, cháu sẽ nhận được một số tiền thưởng trước. Bây giờ, cháu tiếp tục trở lại đạo quân của Trương Định, cứ theo họ làm việc bình thường như từ trước tới nay. Sau này, cháu báo cáo tình hình với bác qua mật hiệu mà bác sẽ qui định với cháu qua người của bác. Tấn gật đầu, dạ cháu nhớ!…

Anh em đội nông binh đang nghỉ ngơi ở một góc đồn, bổng một bóng người len lỏi qua các bụi cây đi về phía họ.- Ai đó ? – Tôi đây, Tấn đây! Nghe tiếng Tấn, Lịch ngồi bật dậy. – Tấn đó à ! sao hồi chiều tới giờ không thấy cậu? Tấn trầm tĩnh vội đáp, tôi bị giặc bắt dẫn đi, dọc đường do lỏng dây trói tay, thoát ra, tôi giết được tên võ quan Pháp và cướp được khẩu súng của nó đây nè; tôi phải mò mẫm trong đêm tối để về đây. Lịch cười nói: vậy mà bọn mình cứ ngỡ là cậu mất tích rồi….

Mờ sáng hôm sau, Pháp chia làm ba mũi tấn công đại đồn Kỳ Hòa. Hướng tấn công mũi giữa do Charner chỉ huy tấn công thẳng vào đại đồn. Các mũi còn lại tấn công vào hai bên rồi đánh tập hậu vào phía sau đại đồn. Quân triều đình đã cho nổ súng thần công vào đội hình của địch, chúng bị bất ngờ và thiệt hại khá nặng. Cùng lúc, trận địa pháo của địch bắt đầu khai hỏa vào phòng tuyến đại đồn, bọn lính Pháp dầu bị thiết hại vẫn tiến vào chiến lũy. Lịch, Nhượng và Sáu Bảnh cùng anh em đội nông binh xông pha giữa lũ giặc đã lọt vào bên trong chiến lũy…Một số quả đạn của địch nổ trúng vào khu trung tâm đại đồn, lửa bốc cháy rừng rực …nhưng với vũ khí thô sơ không thể chống đỡ nổi trước sức tấn công của quân Pháp. Quân triều đình hoàn toàn tan vỡ, khói lửa trùm lên khắp nơi., trên nóc đại đồn đã thấy lá cờ tam tài tung bay…Đang chiến đấu, bổng Lịch được lệnh của quan Lãnh binh cho anh em rút ngay..Lịch hết sức đau lòng, nhưng không còn cách nào khác, anh hô lớn: Anh em theo tôi! Cả đội vừa đánh vừa rút dần theo Lịch về phía sau…

Đại đồn Kỳ Hòa thất thủ…

Trước khi chia tay, gương mặt của Trương Định trở nên đâm chiêu, cười buồn, nhìn Lịch nói: Ta chỉ muốn nói : Tấm lòng của Trương Định nầy không bao giờ phụ bạc sự tin cậy của anh em binh sĩ, sự tín nhiệm của dân chúng, không phụ bạc non sông đất nước nầy đã sinh ra ta, nuôi dưỡng ta nên người.Lịch xúc động nói: tấm lòng của Đại nhân, cũng là tấm lòng của Lịch nầy, dù có xông vào nước sôi, lửa bỏng, Lịch nầy không quản ngại. Trương Định nhìn Lịch bằng ánh mắt trìu mến, tin cậy. Rồi Trương Định nói tiếp: nếu mai sau, triều đình có muốn nhượng đất nghị hòa, ta với chú kiên quyết chống giặc đến cùng, chú có đồng ý không? Lịch nói: xin đại nhân hãy hiểu tấm lòng của Lịch nầy. Trương Định nói: từ lâu ta coi chú như người tâm phúc, ta với chú là người đồng tâm, đồng chí lo giữ nước, an dân. Ta muốn gọi chú bằng cái tên mới “ Nguyễn Trung Trực”, chú có chịu không? – Xin cảm ơn đại nhân. Trương Định nói tiếp: Ta muốn chú sẽ giữ mãi tên nầy đến hết đời, vì đối với chú, chú rất xứng đáng với cái tên như vậy. Sau đó, Trương Định cùng Huỳnh Công Tấn đem quân rút về cánh đồng tối trời lập căn cứ chống Pháp ở Gò Công, còn Trung Trực và anh em nông binh rút về Tân An tiếp tục chiến đấu.

 

NGUYỄN TRUNG TRỰC VỀ TÂN AN

THEO TƯỚNG ĐỔ QUANG VINH

 

Vũng Gù ( nay là tỉnh thành Tân An ), lúc bấy giờ đất nhô lên cao trên dòng sông Bảo Định, và cả một vùng sình lầy dẩy đầy cỏ hoang. Đổ tướng quân là một hào mục ở Vũng Gù, rất ghét công danh, bao nhiêu tài sản sự nghiệp đều cung vào việc nuôi bạn, lúc nào trong nhà, bọn đầy tớ của Đổ Quang Vinh cũng có vài trăm người. Gặp lúc nước nhà ly loạn, giặc biển xâm lăng, họ Đổ đứng lên dưới ngọn cờ của Trương Định, dựng cờ khởi nghĩa ở quê nhà, chiêu mộ đinh tráng, rèn đúc khí giới, cất dinh lập trại, quyết một trận sống chết vì nước, vì nhà. Mộ tiếng hào phóng của Đổ, lực điền, nho sĩ các nơi theo về nườm nượp. Trong vòng một tháng, đội binh nghĩa dõng của Đổ tướng quân thanh thế khắp tỉnh Định Tường.

Một ngày mùa xuân năm 1861, sáu chiếc tàu từ Sài gòn kéo xuống đậu lù lù tại bến chợ , đen xì như con quái vật. Ban ngày chúng nhả những làn khói xám xịt lên bầu trời xanh, kẻ ở xa ngở rằng là một trận hỏa hoạn chi đây. Đêm đêm chúng gieo rắc những tiếng nổ kinh hồn trong các làng mạc chung quanh, sau tiếng còi rít ghê răng.

Bấy nhiêu chưa đủ khiến cho người dân quê Vũng Gù chán ngán, ngày ngày  đều có vài người bị mời lên tàu để trả lời các câu hỏi xí- xô xí- xào, mà theo kẻ biết chuyện đó là những câu cật vấn về địa dư, ý hẳn là chúng muốn kiếm đường đi Mỹ Tho.

Sáu chiếc tàu ấy gồm có: Hai chiếc pháo hạm Mitraille, Alarme; ba chiếc pháp đỉnh 18, 20, 31 ; còn một chiếc là kỳ hạm của Hải quân Trung tá Bourdais.

Trước khi dời đồn binh nghĩa dõng của mình quá tầm đại bác của đoàn quái vật ấy, tướng Đổ Vinh Quang cho đi do thám một lần cuối, và biết chắc quân giặc gồm cả thảy 200 thủy binh, vũ khí hạng nặng, có một khẩu quá sơn bích kít ( Obusier de Montagne).

Sĩ khí đang lúc nồng nàn, ai nấy đều nóng ruột đợi dịp thi gan với hòn tên mũi đạn, lập công với nòi giống, thì lịnh tạm dời binh về Đạo Ngạn truyền ra. Quân ngũ xôn xao, người ta bàn tán phê bình, và người ta rất có lý để ngờ vực cái can đảm của Đổ tướng quân. Có kẽ định kéo ra chợ Vũng Gù, xuất kỳ bất ý nhảy lên tàu giặc để chém giết cho xướng tay.

Nhưng lịnh đã ban ra, dưới bóng trăng lưỡi liềm mõng dánh, đoàn dân binh quần áo cụt đen vũ trang từ súng trường một phát, súng hỏa mai, đến các thứ gươm, dao và mã tấu, nối nhau đi hàng một trên con đường ngoằn nguèo cỏ loang chạy về làng Bạch Ngạn, cờ ngã, trống im, người ngậm tâm, xa trông tưởng chừng như một con rắn ma dài uốn khúc.

Cuộc hành quân của tướng Đổ Vinh Quang kín nhẹm đến đổi dân chúng trong các xóm ven đường không một ai hay. Đến sáng thấy cỏ rạp và mặt đất sét bổng nhiên bằng phẳng dưới muôn ngàn dấu chân người, họ mới biết đêm qua đã có binh Việt lướt ngang.

Trước cái hăng hái ồ ạt của đoàn quân, hai chú đội viên Nguyễn Văn Lịch và Nguyễn Văn Cầm nhìn nhau mĩm cười tinh quái. Đôi bạn tưởng không ai thèm để ý làm gì tới bọn lính mơ như mình, nào ngờ chú Suất đội Lê Văn Hiền gặp cái thái độ khác thường của họ. Chú đến vỗ vai Lịch kéo ra ngoài trại, hỏi nhỏ.

  • Em nghĩ sao mà cười lên như vậy?

–   Thưa Suất đội, em chỉ tức cười vì các anh ấy không hiểu chủ tướng mình chút nào đó thôi, ngoài ra không nghĩ gì khác.

Đôi mắt ngạc nhiên tròn xoe, chú đội Hiền lại hỏi:

  • Vậy theo em, tướng quân ra lệnh rút lui là ý gì vậy?

Lịch  ngó dáo dác chung quanh, đoạn rón chân lên kề tai chú Hiền, nói thật nhỏ:

–   Tránh cái thế bén nhọn của quân giặc mới đến Vũng Gù, để đón chúng khi chúng kiêu ngạo kéo xuống Mỹ Tho.

Một lát sau, câu chuyện của chú tiểu đội viên Nguyễn Văn Lịch lọt vào tai người chủ tướng. Và suốt ba dặm đường về Đạo Ngạn, ngồi trên lưng ngựa đoạn hậu, không lúc nào đôi mắt uy nghiêm của Đổ Vinh Quang rời chú tiểu đội viên Lịch đang vác nóp, cầm dáo chen lấn trong lượn sóng người đen ngòm.

Tiếng gà đầu tiến vừa eo ốc, đoàn quân dừng hẳn lại và chia nhau đóng dọc hai bên bờ rạch Bảo Định, giữa những khóm dừa nước, những bụi lao lách. Bổn thân tướng Đổ Vinh Quang  chỉ bảo cho một toán công binh đấp mô để bố trí khẩu súng đồng yêu quí của mình, lại cho đào những đường hầm chữ chi chạy sát những gốc dừa và mép dưới bụi rậm.

Trong lúc quân nghĩa dõng âm thầm chuẩn bị trên các bờ rạch quanh co, đầy bùn trịn. Ngoài kia chợ Vũng Gù, tướng Bourdais cũng hoạt động lăng xăng…Hắn phái tàu nhỏ ngày ngày đi dọ đường, vẽ địa đồ và dọ thám những vị trí của quân Việt. Mục đích của hắn là phải hạ cho kỳ được Mỹ Tho. Nhưng đã gần nửa tháng rồi mà đoàn trâu nước hung tợn của hắn còn loay hoay quanh chợ Vũng Gù, để nhìn một cách căm tức những bờ cây, lạch nước rất khó chịu.

Bourdais giận lắm. Hắn đi đi lại lại, gót giầy nện bồm bộp trên sàn chiếc kỳ hạm Monge, hàm răng cắn lại khít rịt, hai tay nắm tròn nổi cả gân xanh, như chực đánh ai? Hắn là một danh tướng của Hải quân, tức như một con cù trên mặt nước; và đã là cù thì bao giờ chịu ở cạn.

Bởi thế, sớm tinh sương ngày 27/3/1861, một ngày gió mây im đứng, mặt nước hiền lành, Bourdais hạ lệnh cho toàn hạm đội nhắm con đường rạch Chanh tấn phát.

Dân chúng Vũng Gù đang còn mê ngủ, một hồi còi rít lên như tiếng rống cuả một con ác thú, xé tan bầu không khí thanh bình chốn đồng quê, và một loạt đại bát chỉ thiên áp lực làm rung rinh cả những tấm phên bằng lá dừa. Người ta giựt mình, mở hé hé cửa ra nhìn, chỉ thấy sáu chiếc tàu Tây, máy nổ xình xịch và bắt đầu đổ nghiêng mặt nước trong veo để lướt đi. Khi cái bóng đen cuối cùng biến mất sau khóm tre cao vút sau làng, người ta mới thở phào ra một hơi dài, trút hết bao nổi lo ngại. Hôm ấy người ta đi nhóm chợ đông và vui như tết.

Bourdais đứng trên mũi chiếc kỳ hạm Monge chạy đầu, mặt ngẩn nhìn da trời tẩm đỏ, tay mặt chống cạnh sườn, tay trái sờ đốc gươm lắc lắc, thỉnh thoảng hắn nhích một nụ cười trên đôi môi mỏng, tin tưởng và khoái trá sau những ngày mờ mịt.

Đã tới mép nước rẽ sang rạch Chanh ( Pháp gọi là Arroyo commercial ) mà Bourdais vẫn chưa gặp một địch thủ nào. Hắn mơ màng đến lúc đoàn tàu hắn qua khỏi rạch Chanh, thoát xa biển cả, để lại hùng dũng tiến vào Mỹ Tho với những loạt  súng thị oai, rồi đổ bộ lên thành phố, đóng dinh hạ trại, yên lành như hắn nhai một khúc bánh mì.

Bổng một tiếng “ xịch” rung chuyển cả mặt đất liền, bên hông chiếc kỳ hạm Monge của Bourdais mắc nghẻn lại; lòng sông quá cạn và đầy bùn non đã thành bức vạn lý trường thành không thể lay chuyển. Những dòng nước lại thi nhau kéo tới xoáy tròn thành muôn ngàn cái khu ốc  quanh những chiếc tàu mắc cạn.

Bourdais, rõ là một Hải tướng cừ khôi, không bối rối, không hoang mang, ra lệnh cho đoàn tàu phản tiền vi hậu và nối đuôi nhau rút lui. Dân Vũng Gù tưởng đâu những đám mây mù ảm đạm đã tan ít ra cũng lâu lâu, nào ngờ chỉ ba hôm sau, tức là ngày 30/3/1861, những con quái vật lại mò về, nhả khói xám vút trời xanh và rú lên những tiếng nẩy mình.

Hải quân Trung tá Bourdais mở ngay Hội nghị quân sự trên chiếc kỳ hạm, để tìm một lối thoát tiến quân khác. Rốt cuộc, cũng như Trung úy Lespes, một nhà chuyên môn khoa hàng hải, đã từng đem chiếc thông báo hạm Norvagagaray đi tìm rạch, hai Thiếu úy Franquet, Rieunier và viên kỹ sư Manen, Bộ tham mưu cuả Bourdais  vốn không tìm được một tia sáng nào khác. Đối đế, Bourdais quyết mạo hiểm tiến trên dòng sông Bảo Định. Hắn đoan chắc sẽ có nhiều khúc quanh nguy hiểm, và biết đâu, những trận phục kích đáng lo. Nhưng đó là con đường cuối cùng, con đường sạn đạo duy nhất vào đất Bao Trung.

Một ngày đầu tháng tư năm 1961, đạo chiến thuyền lại rụt rịt, lại nổ những phát súng mở cờ, và nhắm thẳng Mỹ Tho tiến tới, Bourdais vẫn oai vệ đứng đầu hạm Monge, lính thủy quân lục chiến bồng súng hai bên be tàu, lom lom nhìn vào các bụi rậm trên bờ đang lùi dần lại phía sau.

Ngoài những khúc quanh, những cồn nhỏ cần phải tránh, đoàn tàu đi ngon dọt, dù trên những quảng rất hẹp. Thỉnh thoảng có những chà gai hoặc gỗ mục của dân chúng hay quân nghĩa dũng thả ra để làm chướng ngại vật, nhưng đó chỉ là những đồ chơi đối với mũi tàu bọc sắt và các động cơ hàng ngàn mã lực.

Bourdais vừa qua khỏi Đạo Ngạn độ 500m, vài loạt súng trường từ hai bên bắn ra “ lạch tạch….lạch tạch…” Đoàn lính thủy ghì chặt bá súng lên vai, liếc nhìn chủ tướng Bourdais sẽ mĩm cười, tay trái chống cạnh sườn, tay phải vung gươm  chỉ thẳng vào phía trước . Đoàn tàu cứ tiến…Lại những loạt súng nữa, lần nầy, trong đám thủy thủ có người ngã. Bourdais gầm lên một tiếng, đoàn tàu bắn trả lại, tiếng nổ dòn như pháo ran, những hòn đạn tới tấp như từng loạt đậu xanh vãi lên các bờ bụi, chui qua các thân cây, kẽ lá. Bọn lính thủy bắn như say rượu vào những cái bóng ma.

Bổng “ đùng” một tiếng như sấm, như sét, một quả đạn đại bác trúng vào thân chiếc kỳ hạm Monge, lại một phát và một phát nữa…,quả đạn thứ ba làm viên Trung Tá Bourdais rú lên một tiếng, và ngã quay xuống sàn tàu, cả trái tim và cánh tay trái văng bắn đi đâu mất, máu vọt ra ràn rụa. Viên tướng cạnh còn đủ sáng suốt để giật lá cờ vải để đấp lên cái thân ma rùng rợn của Bourdais, để tránh cho binh sĩ một hải hùng có thể làm cho họ rủng chí. Đoạn hắn truyền lệnh dừng tàu lại, và xua quân đổ bộ như một bầy sài lang hăng máu. Họ bắn, bắn, bắn như người ta kéo chỉ quay tơ.

Kết quả họ chiếm được cái đồn nhỏ đắp bằng đất sét, nhưng trong chẳng có một ma nào cả.

Lúc dứt tiếng súng, trời đã nhá nhem tối, vài con vạt đói đã bắt đầuvần vũ trên làn không khí còn sặt mùi mả tử .

Sáng hôm sau, tức ngày mùng 10 tháng 4 năm 1861, đoàn lính thắng trận- bởi họ chiếm được đồn- mới chia nhau đi tìm cánh tay trái và quả tim của chủ tướng. Nhưng quả tim đã mất hẳn, chỉ lượm được cánh tay thường chống nạnh cạnh sườn của Bourdais trong bụi rậm, để lại ráp vào tử thi đem chôn. Từ đó, để kỹ niệm một vị anh hùng, Bộ Tư lệnh Pháp gọi cái đồn vô danh ấy là đồn Bourdais.

Sau trận phục kích tại đồn Bourdais, chú tiểu đội viên Nguyễn văn Lịch nổi bật trên đoàn nghĩa dõng quân của tướng Đổ Vinh Quang. Trong mưa đạn rào rào của đối phương, chú không lúc nào để vắng nụ cười hồn nhiên trên cặp môi hơi dầy, và bắn súng giết giặc như làm một trò đùa. Từ đây, người ta không gọi chú là lính Lịch nữa, Đổ tướng quân thăng chú làm Suất đội, và đổi luôn cho chú cái tên cho xứng đáng với đức tánh của chú : Nguyễn Trung Trực.

Bên cạnh Đổ tướng quân, lúc nào cũng có Trung Trực, càng được yêu mến, chú càng khiêm tốn, kính cẩn đối với mọi người. Người ta chỉ bực mình với chú mỗi một chuyện là chú cứ đòi đi tác chiến luôn. Phải quanh quẩn trong trại mãi, chú thấy khó chịu lắm, bức rức lắm như con ngựa chồn chân.

Như vậy, với sự quả cảm, sự hăng say trong chiến đấu, với đức tánh trung thực, thương và bảo bọc anh em những lúc nguy cấp, khó khăn,… không những Trương Định nhìn thấy, mà Đổ Vinh Quang cũng nhận ra, cả hai đều đặt tên mới cho Lịch là “ Nguyễn Trung Trực “, và cái tên mới nầy đã theo Ông đến suốt cuộc đời, và đến tận mai sau.

 

 

PHẦN HAI

CHIẾN CÔNG ĐỐT TÀU ESPÉRANCE CỦA PHÁP

TRÊN VÀM NHỰT TẢO.

 

Nghe tin một tàu chiến Pháp vừa mới đến đậu ở vàm Nhựt Tảo, đôi mắt Trực sáng lên, mặt tươi hẳn ra, chốc chốc nhìn tướng quân họ Đổ, ngầm đợi một quân lịnh, bồn chồn như một con cọp rình mồi. Nhưng cọp chờ mãi mà mồi vẫn không tới.

Tướng Đổ tuồng như chẳng hay biết một tí gì cả.

Trung Trực không thể chịu nổi nữa, anh ta cầm quạt phẩy mạnh một cái, Đổ tướng quân giật mình quay lại. Trực sẽ cúi đầu và nói: Tướng quân, ngài có kế gì phá giặc rồi chứ? – Chú hỏi ta câu ấy là có ý gì ? Trực nói tiếp: Tàu giặc đã đến vàm Nhựt Tảo từ ba hôm nay, chắc sẽ tìm cách đánh quân ta để báo thù cho tướng Bourdais. Chúng đang bắt bớ tra khảo thường dân, chận đón ghe thuyền, tình cảnh như lữa cháy mày, anh em đều muốn cùng với chúng quyết thư hùng một trận, nhưng đợi mãi chưa thấy Tướng quân tỏ ý động binh, bởi cớ, tôi lấy làm nóng ruột quá.

Đổ tướng quân vỗ vai Trực cười nói:Há ta lại không nóng lòng  đánh giặc cứu nước hơn chú em sao? Ta đã mời nhiều tay hào kiệt quen biết khắp nơi và đã truyền lịnh mộ thêm binh tốt, rèn đúc thêm khí giới, đồng thời huấn luyện thêm tướng sĩ cho thiệt tinh nhuệ. Đến lúc đâu đó hoàn bị rồi, ta sẽ phân binh thành hai đạo Thủy, lục , thề chết quyết phá giặc một phen. Thôi chú khỏi lo cho mệt.

Trung Trực cố trầm ngâm để dấu vẻ bất mãn, giây lâu lại nói: Thưa Tướng quân, vậy thì trong khi chờ đợi xin Tướng quân cho tôi đi thám thính quân tình của giặc xem sao?

Đổ Vinh Quang trừng mắt nhìn Trung Trực. – Công việc đó đã có ban tình báo đảm đương, chú là tướng thân tín của ta, mạo hiểm vào nơi trọng địa, lở có bề gì, thiệt khổ cho ta lắm.

– Xin tướng quân cứ cho tôi đi thử, tôi sẽ có cách xử trí, liệu chắc không có xãy ra việc gì đâu.

Giọng nói của Trực khẩn thiết quá làm cho Đổ tướng quân phải gật đầu.

Lập tức, chú suất đội Trung Trực, với số tiền cần kiệm bấy lâu nay, mang ra sắm sửa đủ các dụng cụ nhẹ của người thợ trẻ như : cưa, búa đủ loại, bào ngắn, bào dài, giũa và mấy cây cọ sơn…để vào một cái rương nhỏ có quay vải mang đi cho tiện.

Trực lân la chỗ bến tàu Pháp và làm quen với đoàn thợ  mộc để xin việc làm. Nhờ tánh nết lễ độ, hiền lành, Trực được ông thợ “ cái “ chấp thuận cho gia nhập vào đoàn thợ của ông để ra tàu Tây sửa chữa , thay đổi đồ cây gỗ hư và sơn phết các chỗ bị bong tróc.

Công việc nào giao cho Trực đều được chắc chắn, bọn thủy thủ của Pháp rất khen ngợi và tín nhiệm, nên ngày nào, Trực cũng được bọn Tây dẫn đi xem xét từ trên sân đến các hầm tàu để coi chỗ nào nên đổi, Trực lo kiếm cây tốt để thay thế.

Kẻ hữu tình rình người vô ý  …Trực đi đến đâu cũng để mắt thu thập ghi vào trong trí nhớ, nhứt là các thùng đựng dầu là loại dễ phát hỏa. Trực đề nghị làm chân cao bằng gỗ để thùng khỏi bị hư rỉ, chảy dầu, hao của, lại có khi vô ý để phát hỏa nữa. Trực làm thử một cái chân bằng cây, bọn Pháp khen ngợi vô cùng, cho làm nhiều chân như vậy, đặng kê các thùng dầu. Trong ý của Trực là tạo cho có công chuyện lâu ngày, và phải có sẵn củi khô nằm kề bên dầu hỏa. Ý đồ đó, đòi hỏi nhiều thời gian và kiên nhẫn.

Mỗi chuyến đi làm độ vài ngày, Trực báo cáo hết cho Đổ tướng quân, nhờ vậy, mặc dù ở nhà nhưng Đổ tướng quân nắm tình hình dưới tàu Esperance như trong bàn tay. Đổ tướng quân rất hài lòng về sự khôn ngoan và thông minh của Trực, và cũng rất hài lòng về sự chọn người của Ông…nên Trực tiếp tục đi làm nhằm hoàn bị được công việc dọ thám một cách bí mật.

Bọn Tây dưới tàu đều quen biết thằng thợ mộc trẻ dễ thương, thường ngày sửa chữa dưới tàu, chúng còn cho quà bánh, kẹo mức của Tây nữa…

Thế là kế hoạch của Trung Trực thành công tốt đẹp…

Vào thời đó, tàu Esperance là một chiến hạm khá lớn mạnh, với 16 khẩu hải pháo, võ tàu được bọc bằng thép, quả thật tàu Esperance là một pháo đài bất khả xâm phạm đối với một địch thủ chỉ có dao, mác và súng hỏa mai.

Pháo đài nầy đứng sừng sững giữa ngả ba sông và được dùng làm đồn trú cho một lực lượng hổn hợp, gồm có : lính Pháp, lính Ả Rập, quân người Tagal và mã tà, cộng với quân cơ hữu trên tàu là 120 người, quân số lên đến 300 người. Tướng Bonard muốn đặt một lực lượng mạnh mẽ vì đồn binh nổi nầy có nhiệm vụ chặn hết các đường giao thông chằn chịt quanh địa phận Gia Định.

Trực, Nhượng, Cầm, Sáu Bảnh, cùng dự bàn việc đánh chiếc tàu Esperance, pháo đài nổi tại ngã ba Vàm Nhựt Tảo kiểm soát mọi hoạt động của ghe thuyền qua lại, nhưng quan trọng hơn là ngăn chặn mọi hoạt động và liên lạc của nghĩa quân từ Tân An đến Mỹ Tho, Gò Công thuộc tỉnh Định Tường. Trực nói chậm rãi nhưng kiên quyết: Bọn Tây dương hiện nay dựa vào sức mạnh hải quân, là ưu thế tuyệt đối của chúng trên chiến trường nhiều sông rạch ở phía Nam. Chỉ có đánh chìm pháp hạm của giặc mới phá tan sự sợ hải tàu giặc trong hàng ngũ nghĩa quân và cả triều đình nữa. Tình thế nầy khiến chúng ta không thể chần chừ nữa, chậm một ngày thêm bất lợi một ngày, “ binh quí thần tốc “ .

Với quyết tâm phải tiêu diệt cho bằng được chiếc tàu Esperance…phải tiêu diệt…đồng thời, phải có kế hoạch thật chu đáo, vì việc nầy chỉ thực chỉ có một lần và phải thành công, không có lần thứ hai.

Tàu Esperance do Hải quân Thiếu tướng Bonard phái xuống Nhựt Tảo để tiêu trừ quân nghĩa dõng, tàu do tên Parfait chỉ huy. Mấy hôm nay áng ngữ tại Vàm, đón tra xét tất cả ghe thuyền lớn nhỏ qua lại, bắt bớ những người họ tình nghi đưa lên Sài Gòn. Dân chúng Nhựt Tảo nơm nớp lo sợ, đàn ông cứ cả ngày nhớn nhác bỏ công , bỏ việc, đàn bà đóng kín cửa không dám ra ngoài.

Trên bờ, quân Pháp cho xây đồn, lá cờ tam tài bay ngạo nghễ trên nóc đồn, bọn lính phần lớn là lính mã tà, nhằm tạo thế “ ỷ giốc “ hổ trợ nhau. Chúng ta phải nắm thêm qui luật đi lại của bọn chúng giữa đồn và tàu, để có thể nắm phần thắng.

Sau khi nắm vững tình hình, Trực và anh em nghĩa quân bàn cách tiếp cận tàu giặc. Trực nói: bọn Tây dương nó ỷ có tàu to, súng lớn, nó có thể đánh mình từ xa. Cho nên mình phải phá ưu thế đó bằng cách đánh cận chiến, nghĩa là đánh giáp lá cà, qua trận đánh đồn Kỳ Hòa vừa rồi, thế đánh cận chiến của ta đã có hiệu quả rõ rệt, súng lớn bắn xa của giặc không có tác dụng…

Trực nói tiếp: tôi suy nghĩ mãi chỉ có cách tiếp cận tàu giặc bằng cách giả làm đám cưới rước dâu trên sông, đã là đám cưới thì phải có đàng trai, gái của hai họ, có chủ hôn, cô dâu, chú rễ chánh và phụ. Nghĩa là phải có hai, ba ghe tam bản lớn chở năm ba chục người đàn ông, đàn bà, trai, gái ăn mặc đẹp, dưới ghe mình bí mật dấu vũ khí, khi có hiệu lịnh là nhất tề xông vào tiêu diệt. Đối với thằng Tây dương nó ở xa tới đây, thấy đám cưới nó cũng muốn coi cho biết phong tục tập quán người Việt mình trong việc cưới hỏi ra sao, do đó, sự đề phòng không cao…

Trong nhà ông giáo Thứ, Trực đang ngồi nói chuyện với ông giáo, câu chuyện đã đến hồi kết thúc. Trực đứng dậy, lễ phép nói: Con cảm ơn Thầy đã nhận lời giúp con trong kế hoạch diệt tàu Tây dương. Xin Thầy giữ kín chuyện nầy. Khi khởi sự, con sẽ cho người qua rước Thầy. Ông thầy Thứ hết sức xúc động vì được tham gia vào trận chiến sắp tới, bắt giặc Pháp phải đền tội ác với nhân dân. Với nét mặt phấn khởi, thầy tin chắc trận đánh sẽ thành công…

Sau  một thời gian tìm hiểu qui luật hoạt động của toán địch trên tàu, Trung Trực quyết định một kế hoạch táo bạo, và đích thân đưa quân về thực hiện. Khoảng 200 chiến sĩ nghĩa quân được sử dụng, chia thành 3 đội hành động riêng rẽ, nhưng ăn khớp với nhau một cách thống nhất theo hiệu lịnh chung.

Đúng lúc dưới tàu, quân Pháp đã ăn xong bữa trưa, một đội nghĩa quân di chuyển thật lộ liễu ở bìa làng Nhựt Tảo. Đội quân nầy di chuyển cho quan sát viên trên tàu phát hiện, tên đại úy Parfait, chỉ huy đồn binh nổi, lập tức sai hai trung đội lên bờ đuổi bắt. Quân số trên tàu tuy có giảm sút, nhưng địa phương lâu nay vẫn vô sự, nên các sĩ quan còn lại thấy không cần áp dụng một biện pháp nào đặc biệt, ngoại trừ những người đang phiên túc trực gác. Do đó, binh lính trên tàu cứ thản nhiên tìm giấc ngủ trưa, coi chẳng có việc gì xãy ra. Trong lúc đó, khoản 50 nghĩa binh thuộc một đội khác, chia làm hai toán lẳng lặng nhoài mình trong sình lầy, nhích dần từ tấc đến nơi họ được chỉ định mai phục hai bên bờ sông đối diện với tàu Esperance.

Ấy là ngày 10/12/1861, nhằm ngày mùng 9 tháng 11 Tân Dậu, lúc 12 giờ trưa, là một buổi trưa tan chợ, như thường lệ, chiếc Esperance vẫn neo đậu giữa dòng sông rộng, trời không có gió, lá cờ tam tài trên cột cờ ủ rũ, trước mũi tàu, tên lính gác cầm súng đi qua, đi lại, có vẻ mõi mệt,…Chợt hắn thấy từ xa có năm chiếc ghe bầu chèo thật thư thả đến gần tàu chiến Pháp, ghe nào cũng đông nghẹt  những người ăn mặc chỉnh tế, ghe nào cũng có mâm trầu, ché rượu phủ bằng vải đỏ và nhiều mâm trái cây…Chiếc ghe đầu có ông già mặc áo thụng xanh, khăn đống và cô dâu, chú rễ trong trang phục áo cưới, còn lại áo dài đủ màu sắc…Tên lính chạy vào báo với tên thông ngôn: có đám cưới đi về phía tàu mình, ông báo với đại úy biết, rồi vội vả trở vế vị trí.

Tên đại úy nghe báo, hắn vội mặc quân phục chỉnh tề, vì chắc chắn phải tiếp đám cưới đến trình giấy, hơn nữa hắn tò mò muốn biết phong tục tập quán lễ cưới của người Việt, mà hắn chưa hề được nhìn thấy. Chiếc ghe đi đầu đã cặp vào hông tàu, một chiếc thang dây được thòng xuống, rồi chiếc thang thứ hai được thòng xuống tiếp,..Người đầu tiên bước lên thang dây là ông giáo Thứ, kế đến là chú rễ, cô dâu, phù dâu, phù rễ, lần lượt là những người đội mâm quả…Trên tàu, ông giáo Thứ trong vai chủ hôn bước đến chào viên đại úy Parfait : Bẩm quan lớn, hôm nay là đám cưới đứa cháu gái, có chút quà mọn xin tặng quan lớn. Ông gọi người nghĩa quân đội mâm phủ vải đỏ đến giở ra, mấy nải chuối cau vàng rực và cam quít…Tên Parfait cười nói: cám ơn ! cám ơn ! Ông giáo Thứ đưa giấy phép cho Parfait xem qua loa rồi trả lại, hắn nói: Bản chức hân hạnh thay mặt cho quân đội viễn chinh Pháp xin chúc mừng cô dâu và chú rễ, chúc hạnh phúc!…

Hắn quay sang chú rễ, hắn giựt mình, thì ra tên thợ mộc trước đây, hàng ngày đến sửa tàu , chưa kịp nói, bổng hắn “ hự” một tiếng, giật nẩy mình, ngã vật ra sau, vì mũi đoản kiếm của Trức đã ngập sâu vào ngực của hắn. Tức thì, Nhượng rút vội thanh kiếm lia luôn một nhát vào cổ tên thông ngôn. Các nghĩa quân vội trút bỏ trang phục khăn đống áo dài, cùng tham gia trận chiến ác liệt với bọn lính trên tàu…Dưới ghe, các nghĩa quân vội vác rơm, củi tre khô, bùi nhùi…quăng lên boong tàu hàng đống, rồi nhanh chóng phóng hỏa vào hầm máy, nơi có nhiều thùng dầu bắt cháy bùng lên…

Một số lính đang ngủ choàng dậy ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì xãy ra, thì nghe tiếng la lớn: chạy mau ! giặc đến rồi kìa! Chúng thấy lửa cháy khắp nơi, hồn bất phụ thể, mạnh ai nấy nhảy xuống sông, tên nào chậm chân thì bị nghĩa quân hạ sát. Những tên gieo mình xuống sông, khi lội vào tới bờ thì rơi ngay vào tay những nghĩa quân đã bố trí ém mình chờ giặc theo kế hoạch.

Nghe tiếng súng báo động trên tàu, tên võ quan trong đồn trên bờ vội dẫn lính chạy đi tiếp viện, hắn vừa vẫy súng, vừa hò hét đám lính, bổng hắn ngã nhào xuống hố chông của nghĩa quân được ngụy trang đã đào sẵn. Bọn lính chạy phía sau dạt qua hai bên bị lọt vào ổ phục kích của nghĩa quân, từ các bụi cây đã xong ra đánh giáp lá cà khiến bọn chúng không kịp chống đỡ.

—o0o—

 

Lại có một nguồn dữ liệu cho rằng, sau khi thăm dò, nắm vững chắc tình hình địch trên tàu Espérance, Nguyễn Trung Trực đã họp bàn với các nghĩa quân nồng cốt, xây dựng kế hoạch tỉ mỉ, đích thân chỉ huy đoàn nghĩa binh chia làm ba mũi tấn công tàu địch. Lần nầy và chỉ duy nhất có một lần, không có lần thứ hai, nên không thể thất bại. Nguyễn Trung Trực đã trao đổi với người buôn lúa gạo trước đây đã được Trung Trực cứu khỏi đám cướp của Sáu Bảnh và Hai Hổ, thuê mướn khoản năm chiếc ghe buôn chuyên chở lúa gạo nhằm che mắt giặc Pháp trên tàu. Vì tàu Espérance nằm áng ngữ ngay Vàm Nhựt Tảo, đây là vị trí chiến lược kiểm tra tất cả ghe thuyền từ Sài gòn về Định Tường, đồng thời, kiểm tra cả các kênh rạch từ Tân An xuống Gò Công. Hơn nữa, dùng  ghe buôn thì dễ dàng che dấu nghĩa quân và dụng cụ hỏa công để đốt tàu. ( nguồn dữ liệu nầy được nhiều người chấp nhận hơn cả – trong đó có ý kiến của một số người Pháp như Paulin Vial và Alfred Schreiner….)

Thế là vào một buổi trưa tan chợ, như thường lệ, chiếc Espérance vẫn neo đậu giữa dòng sông rộng, trời không có gió, lá cờ tam tài trên cột cờ ủ rũ, trước mũi tàu, tên lính gác cầm súng đi qua, đi lại, có vẻ mõi mệt,…Chợt hắn thấy từ xa có năm chiếc ghe buôn  chèo thật thư thả đến gần tàu chiến Pháp. Chiếc thứ nhất cặp vào hông tàu để trình giấy, thang dây được thả xuống, và người chủ ghe leo lên trình giấy…, ghe thứ hai tiếp tục cặp vào hông tàu, thang dây lại được thả xuống, ..và lần lượt năm ghe buôn đều cặp vào hông tàu,…mỗi ghe đều có người đưa giấy trình. Tên lính Pháp mệt mõi đưa mắt nhìn qua các tờ giấy phép, bổng một tiếng “ hự ” , mũi gươm của chủ tướng Nguyễn Trung Trực đã đâm thẳng vào ngực hắn. Hắn đỗ người xuống nền tàu, cũng là lúc hiệu lệnh cho nghĩa quân từ các ghe nhảy lên tàu đánh giáp lá cà. Dưới ghe, các nghĩa quân vội vác rơm, củi tre khô, bùi nhùi…quăng lên boong tàu hàng đống, rồi nhanh chóng phóng hỏa vào hầm máy, nơi có nhiều thùng dầu bắt cháy bùng lên…

Một số lính đang ngủ choàng dậy ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì xãy ra, thì nghe tiếng la lớn: chạy mau ! giặc đến rồi kìa! Chúng thấy lửa cháy khắp nơi, hồn bất phụ thể, mạnh ai nấy nhảy xuống sông, tên nào chậm chân thì bị nghĩa quân hạ sát. Những tên gieo mình xuống sông, khi lội vào tới bờ thì rơi ngay vào tay những nghĩa quân đã bố trí ém mình chờ giặc theo kế hoạch.

 

—o0o—

 

Lửa hồng chói rực Vàm Nhựt Tảo, đạn lớn, đạn nhỏ trên chiến hạm nổ dòn như bắp rang, trong lúc đoàn nghĩa quân đã nhanh chóng rút lui. Một tiếng nổ long trời đã rung chuyển cả mặt sông, chiếc Esperance từ từ chìm xuống dòng sông ngay Vàm Nhựt Tảo, lúc ấy, lửa cũng đã cháy rụi cái đồn trên bờ…

Sau trận hỏa thiêu tàu Espérance, thanh thế các lực lượng dân quân tự lực chống giặc ngoại xâm nổi dậy như sóng cồn, và từ đó, tàu to, súng lớn của Pháp không còn là huyền thoại bất khả xâm phạm nữa…Uy thế của vị thủ lĩnh đã tạo dựng  được võ công bất hủ nầy cũng lên cao…Triều đình nhà Nguyễn hạ chiếu ban cho Nguyễn Trung Trực hàm Quản cơ, từ đó, người anh hùng có thêm cái tên  là Quản Lịch.

Dưới mắt quân Pháp, lực lượng Nguyễn Trung Trực đã trở thành một kẻ thù phải tiêu diệt cho bằng được. Pháp tổ chức cuộc càng quét Thủ Thừa, nhưng nghĩa quân đã rút sâu vào Đồng Tháp Mười. Nhằm ngăn chặn hoạt động của nghĩa quân, cũng như tính kế lâu dài, Pháp cho lập nhiều đồn binh ở miệt Thủ Thừa. Những đồn binh nầy được xây dựng chẳng bao lâu, đều bị Nguyễn Trung Trực mang quân sang bằng.

Thân thế, lực lượng nghĩa quân Nguyễn Trung Trực ngày càng lên cao. Tướng Bonard quyết trừ cho được mối họa sát nách với bất cứ giá nào. Chủ soái giặc Pháp treo giải thưởng rất hậu để mua thủ cấp Quản Lịch với giá 100.000 quan Pháp, tương đương 3.000 lượng vàng. Nhưng giải thưởng lớn lao đó chẳng có tác dụng, chẳng quyến rũ để mở đường cho một vụ nội phản trong hàng ngũ nghĩa quân rất mực trung kiên.

Nguyễn Trung Trực mở màng cho một lối đánh táo bạo. Không phải Ông Nguyễn là người đa mưu túc trí, hay ăn học cao kỳ, nhưng vì hung đúc bởi lòng căm thù , nguy cơ của dân tộc và đất nước, đã thúc đẩy người anh hùng trẻ tuổi tìm mọi phương thế giết giặc bảo vệ xóm làng.

Sau khi toàn thắng, nghĩa quân lên bờ theo đường bộ kéo về Tân Hiệp, trong lúc chiếc tàu chiến của giặc còn đang phát hỏa ngoài sông…

Đồn Tân An được báo động, tên trưởng đồn là Arquier vội vàng cho tàu Garonne chạy lên tiếp cứu. Tàu Garonne tới Vàm Nhựt Tảo chẳng còn thấy một ai, ngoài xác chết ngổn ngang nằm cạnh bãi bùn, bèn nổ súng thị oai và vớt xác chết. Trong một đêm chờ chực, sáng hôm sau, trước khi về Tân An, Pháp quân tràn lên bờ đốt hết nhà cửa, chặt hết cây trái để trả thù.

Song dân chúng biết trước những hành động cực kỳ dã man của quân xâm lược, nên đã bồng bế nhau chạy lên miệt Thủ Thừa, hay lên Tân Hiệp theo nghĩa quân Ông Nguyễn.

Trận đánh Nhựt Tảo vang động nơi nơi, làm cho dân chúng Nam kỳ vô cùng mến phục tài ba của Nguyễn Trung Trực.

 

PHẦN BA

THỜI THẾ TẠO ANH HÙNG – DANH LƯU MUÔN THUỞ

 

Những cuộc khởi nghĩa diễn ra liên tiếp, thiên hình vạn trạng. Chung qui có 4 cuộc khởi nghĩa lớn hơn hết mà các nhà chép sử không có quyền bỏ qua.

– TRƯƠNG CÔNG ĐỊNH khởi nghĩa đuổi quân Pháp ra khỏi Gò Công ( 1862 ), lập khu kháng chiến vùng Kiến Phước, nhưng rốt cuộc đành ôm hận vì bị tên phản tặc Huỳnh Công Tấn dẫn đường cho giặc đến bắn chết…

– THỦ KHOA HUÂN đánh phá vùng Mỹ Tho ( 1863 ) bị bắt, Pháp đày sang đảo Réunion; sau 10 năm bị giam cầm, trở về tiếp tục hy sinh cho nghĩa lớn, dẩu đầu rơi, máu loang đỏ dòng Bảo Định, nhưng hồn thiêng vẫn muôn năm phảng phất Cồn Rồng…

– VÕ DUY DƯƠNG tức THIÊN HỘ VƯƠNG dấy binh vùng Đồng Tháp Mười ( 1866 ) chịu bao gian lao với muỗi mòng, đỉa, vắt, nhưng vẫn bền gan thiết thạch đến khi mang bệnh rồi chết.

– Và một Liệt sĩ nữa là NGUYỄN TRUNG TRỰC, một vị anh hùng TRUNG, HIẾU, TIẾT, NGHĨA vẹn toàn , mà chúng ta đang tìm hiểu những gương chiến đấu dũng cảm của Ông.

Tất cả đều có công ơn đối với Tổ quốc. Mỗi vị đều có một hoàn cảnh chiến đấu khác nhau, mỗi người một vẽ.   

Nguyễn Trung Trực đánh chớp nhoáng, nhờ lòng yêu nước mà nảy ra sáng kiến kịp thời, nhờ sự ủng hộ của trăm họ mà có sức mạnh với mục đích cao cả, thiêng liêng là vì dân, vì nước. Thật đáng lưu danh muôn thuở.

 

PHÁP QUÂN TIẾN ĐÁNH ĐỊNH TƯỜNG,

NGHĨA QUÂN NGUYỄN TRUNG TRỰC HÀN SÔNG ĐẤP CẢN.

 

Sau khi đề đốc Charner quyết định đánh Định Tường, đầu tháng 4 năm 1861, quân Pháp do Bourdais, L’ espès , Manon, Franquet, Rieunier  thống lĩnh các chiếc tàu  Monge, Norzagaray, Impératrice Eugenie, Mitraille, Alarme chở nhiều binh lính Pháp và Tây Ban Nha mở đường chạy dọc theo các dòng sông lớn từ Tân An qua Định Tường.

Được tin đó, nghĩa quân Nguyễn Trung Trực, đa số là dân chài lưới bơi lội rất thông thạo, lo ngày đêm xóc nọc, hàn sông, trên nhiều Vàm rạch lớn nhỏ, để ngăn bước tiến của quân địch. Nhờ vậy, suốt cả một tuần tàu chiến của Pháp mới đến được Rạch Chanh…

Rạng sáng ngày 10/4/1861, địch quân đổ bộ lên bờ sông Bảo Định, họ tiến đánh Trung Lương, bổng gặp phải toán nghĩa quân do Nguyễn Trung Trực dẫn đầu, phục kích, đánh xáp lá cà, một trận ác chiến đã diễn ra bên bờ sông Bảo Định. Viên chỉ huy trưởng là Bourdais và hơn 30 binh sĩ Pháp bị hạ ngay tại chỗ. Tàu Alarme xả súng liên thanh làm cho trận đánh xung phong chưa được như ý. Vì theo dự định của Ông Nguyễn là phải nhận chìm ít ra cũng một vài chiếc tàu cho được mới nghe.

Lòng dân phẩn nộ đến cực độ, vì rằng:

“ Ngày thấy ống khói bay đen xì, toan ra cắn cổ,

Dân chúng trước đây hiền lành, chất phác bấy nhiêu, nay lại hăng lên, đâm ghét bọn Tây dương như nhà nông ghét cỏ dại. Nào dáo dài, lao nhọn, gươm bén, dao mài, sắt son một lòng rửa mối hận thù cùng quân giặc cướp nước. Nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đầu tiên lập chiến công lừng lẫy bay khắp nơi nơi. Đoàn chiến thuyền giặc phải đậu lại suốt ngày lấy thây chôn cất, và rạng sáng hôm sau mới tập trung lực lượng tiến qua Trung Lương lập đồn, chong đại bác bắn vào Định Tường….Ngày 14/4/1861, quân Pháp hoàn toàn làm chủ tình hình ở Định Tường…

 

VUA TỰ ĐỨC TRƯNG CẦU DÂN Ý, NGHĨA QUÂN

NGUYỄN TRUNG TRỰC DÂNG SỚ XIN QUYẾT CHIẾN.

 

Những điều kiện nghị hòa của tướng Charner được Khâm sai Nguyễn Bá Nghi chuyển về Triều đình. Vua Tự Đức tức giận cách thức làm việc của Nguyễn Bá Nghi, vì những điều tối kỵ của Vua Tự Đức là không dung nạp đạo Thiên Chúa và không mở cửa biển cho Pháp giao thương buôn bán theo chủ trương “ bế quan tỏa cản”, nên không thể chấp nhận những điều kiện quá nặng nề ấy. Hơn nữa, triều thần cũng chẳng bằng lòng tý nào.

Trong lúc đó, tướng Charner vừa đưa điều kiện nghị hòa, vừa chuẩn bị cuộc tấn công qui mô lớn vào vùng Gò Công, bởi quân dọ thám cho biết nơi đó có nhiều nghĩa binh đang mưu đồ đại sự.

Triều đình đang bấn loạn, không nghĩ ra được một kế sách nào khả dĩ, cuộc tranh cải giữa hai nhóm chủ hòa và chủ chiến không có hồi kết. Vua Tự Đức mới nảy ra ý kiến là mở cuộc trưng cầu dân ý để cho dân chúng đưa lên nguyện vọng  của mình. Tiếc thay công việc làm quá gấp rút, nên thu thập chẳng được bao nhiêu kết quả. Tuy nhiên, cũng giúp cho Vua Tự Đức nhiều ý kiến thấu đáo về vận nước lúc đó.

Qua hơn hai trăm bản điều trần, bộc lộ rõ rệt tinh thần yêu nước nồng nàn của dân chúng, nhưng mỗi nhóm, một quan niệm khác  nhau về việc giải thoát cho non sông. Đại đa số các bản sớ cũng đều ở trong tinh thần nhượng bộ, không về mặt nầy, cũng về mặt khác, chỉ duy có lá sớ của toàn thể nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đứng trên 500 người là cương quyết một lòng giết giặc, chống Pháp tới cùng để bảo vệ non sông. Lời lẽ đanh thép và sắc máu như một lời nguyền: “ Giận bọn Tây đã cướp nước, lòng dân sôi sụt ngày đêm. Bọn cẩu trệ hoành hành thôn xóm, gây điêu linh tang tóc xóm làng. Từ giàu sang chí những người nghèo hèn, ai tránh khỏi cảnh vô cùng cơ cực ? Chém con nít, bức đàn bà, đốt nhà, bắt vật, kể hơn nữa ta thán ngập trời xanh. Nghĩa quân chúng tôi đây, toàn dân nghèo khổ, chưa quen cung ngựa tới trường, nhưng chính biết lưới chài, ruộng nương quen sống.

Nhưng hờn sôi sùng sục, phải bỏ phăng tay lưới, tay cày, tay hái, đứng vùng lên tập dáo, tập gươm, tập nỏ, xông ra trận lấy trung áp địch, lấy nghĩa phù dân. Thà thác mà đặng câu địch khái, về trào tổ phụ còn vinh. Hơn là sống mà chịu chữ đầu Tây, ở với “ man ri “ tất khổ. “

Cứ theo tinh thần lá sớ trên đây, chúng ta thấy rằng nghĩa quân toàn là lớp dân nghèo khổ, điêu linh đã lắm, gian khổ cũng nhiều. Tinh thần bất khuất, ý chí quật cường, ít ai thưở ấy so bì kịp. Với một chủ tướng sắt đá, không vì súng đồng mà lay động, chỉ vì nghĩa cả vung gươm. Nước non trọn một mối tình, trăm ngàn trở ngại chẳng hề nao núng.

Cuối năm Tân Dậu 1861, khâm sai Nguyễn Bá Nghi không có một sáng kiến gì trong vấn đề hòa hay chiến. Thấy Nghi bất lực, vua Tự Đức cử ngay Tiến sĩ Phan Thanh Giản vào Nam làm trách vụ “ Nghị hòa toàn quyền Đại Thần”.

 

THAY TƯỚNG SOÁI, PHÁP TIẾN CHIẾM GÒ CÔNG

CUỘC HỘI QUÂN GIỮA TRUNG TRỰC VÀ CÔNG ĐỊNH

 

Cũng cuối năm Tân Dậu ( 1861 ), Trung tướng Charner về Pháp, và người sang thay là Thiếu tướng Bonard. Cần biết Bonard là một tướng rất hiếu chiến, khi bước chân rời khỏi nước Pháp thì Ông ta dõng dạc tuyên bố rằng:  Không chiếm được Nam kỳ thì nhứt định không về gặp lại thành phố Paris. Pháp hoàng đặt nhiều tin tưởng ở Bonard khi thấy ông ta tỏ ra cương quyết vô cùng.

Vừa tới Sài gòn, Bonard thảo luận kế hoạch tiến đánh Gò Công. Thời gian chuẩn bị trong vòng tuần lễ….Thế là nghĩa quân Nguyễn Trung Trực , lúc đó đang đóng quân tại Bến Tranh, hay hết mọi điều hơn ai hết . ( thân sinh cụ Nguyễn khuyên con phải di binh gấp rút về bảo vệ Gò Công, và Ông rất lo âu cho nhân dân Vàm Láng ). Theo Ông thì ân nghĩa xóm giềng, cọng rau tất đất , nồi gạo củ khoai, chỉ trả được khi nguy cấp nhất. Bao nhiêu của đậu tại Vàm Láng làm ăn suốt cả năm trời, nhờ đồng bào bảo bọc, chẳng lẽ lúc lập nên nghĩa binh  khi giặc tới lại lờ đi là bất nghĩa.

Toàn quân nghe qua rào rạt cảm động không nói nên lời. Nguyễn Trung Trực xét thấy vô cùng chí lý, nên  nội  trong ngày đó, đến bái yết Lãnh binh Nguyễn Công Nhân đang đóng quân ở Thuộc Nhiêu .

Tuy Lãnh binh Nguyễn Công Nhận muốn giữ chân Trung Trực ở lại giữ Bến Tranh nhằm ngăn đường  tiến quân của Pháp, nhưng không cầm được trước những lời lẽ tha thiết của Trung Trực. Nguyễn Công Nhân liền viết mật thư cho Quản Định, tức Trương Công Định, và mong muốn có sự phối hợp giữa hai lực lượng trong việc phòng giữ Gò Công.

Sau khi nhận được bức mật thư, lãnh tụ nghĩa binh vội vã trở lại Bến Tranh, kéo rốc binh sĩ ngày đêm về Gò Công. Tới nơi, đã thấy thành Gò Công đã rộn rịp chuẩn bị kiên cố phòng lũy, bố trí bốn miệng thần công xoay ra mặt sông Vàm Láng. Chính Trương Công Định đích thân chỉ huy việc bố trí nầy.

Bổng nghe đoàn binh cụ Nguyễn rầm rộ kéo đến, Cụ Trương Công Định thất kinh, tưởng rằng giặc Pháp đã đánh xong Bến Tranh, Chợ Gạo, nên Trung Trực mất căn cứ , mới rút về phạm vi trấn giữ của mình.

Khi được xem mật thư của Lãnh binh Nguyễn Công Nhân, Trương Công Định mới yên lòng, mời Cụ Nguyễn vào thành đàm luận. Theo tướng lãnh họ Trương, ông cương quyết chống giữ thành trì cho đến giọt máu cuối cùng, dầu phải hy sinh. Có làm được như thế, Pháp quân mới nể mặt mà không dám đánh các nơi khác.

Nhưng Nguyễn Trung Trực là người có nhiều kinh nghiệm trong trận đánh thành Trung Lương và Mỹ Tho, nên có nhận thức tinh tế hơn. Theo cụ Nguyễn, thì sức kiên cố của các thành trì bên ta không chống nổi sức công phá mãnh liệt của địch, bằng chứng là đồn Kỳ Hòa rồi cũng tan rã. Huống chi đồn Gò Công là tiểu đồn nằm chơi vơi trên khu đất trống trãi, lại tựa con sông rộng mênh mông. Giặc dùng thủy quân lục chiến là chính, ta cố thủ chẳng ích gí ? Chi bằng nghi trang thành lũy và rút quân ra ngoài để chận đánh bất ngờ. Nhưng Trương Công Định khó chấp nhận ý kiến của cụ Nguyễn.

Cuộc thảo luận không đi đến thống nhất, nên Nguyễn Trung Trực đành xin được bố trí tiếp chiến bên ngoài, đem quân về đóng ở Giồng Tre – Hưng Đông , làm thế ỷ dốc.

Tảng sáng ngày 22/6/1861, quân Pháp chia ra nhiều tốp từ dưới tàu Amphitrite đổ bộ kéo lên. Kỳ nầy có lính người Việt dẫn đường, nên tiến quân mau lẹ. Người chỉ huy cũa họ là P. Vial, trước có tham chiến ở Cẩm Lệ, hùng hổ phát cờ tam tài , la ó vang rền.

Theo kế hoạch, quân ta trong thành không bắn ra một phát súng nào cả, chỉ nằm im phăng phắc như thành lũy không người giữ. Quân Pháp tưởng như dễ ăn khi lấy thành Định Tường, nên cứ sắp hàng rầm tập kéo thẳng vào cửa chính của thành Gò Công, vừa đi vừa bắn dọ dẫm. Quân ta vẫn kiên lòng chờ đợi cho đến khi đội quân xung phong của P. Vial còn sát mặt thành chừng năm ba thước, tức thì tiếng trống lệnh của Quản Định đùng đùng thúc trận. Súng ta nổ liên hồi. Hỏa hổ theo sát mặt thành thổi ra đỏ rực. Tên tướng giặc P. Vial bị lửa táp té nhào, cháy cả tóc tai. Chính Trương Công Định dụng thế phóng luôn hai ngọn dáo vào vai và đùi của Vial. Pháp quân hốt hoảng chạy tán loạn. May nhờ có tên lính Tagal là Bodies cõng tên Vial chạy thoát làn súng của ta. Nhưng tên P. Vial cũng bị đui một mắt và phõng rất nặng.

Thế là đợt xung phong thứ nhất phải tan rã sau hơn 10 phút chiến đấu. Nghe báo động, tàu Amphitrite xả đại bác bắn lên kịch liệt suốt cả tiếng đồng hồ. Đạn trái phá làm cho thành Gò Công đỗ vở. Thấy thế nguy kịch, Trương Công Định cho quân rút theo ngã hậu thoát thành đi về phía Tây huyện.

Hai ngày nhu vậy, mà Pháp quân không dám đổ bộ lên lần nữa, dầu thành Gò Công đã bỏ vắng teo rồi.

Cho tới trưa ngày 24/6/1861, viện binh từ Sài gòn được đưa tới theo tàu Duchayla do Thiếu tướng Lebris chỉ huy, tàu tới đậu tại vàm Rạch lá. Lần nầy, Pháp quân đỗ bộ lên 4 mặt, tiến thật chậm, có liên thanh và đại bác bắn mở đường. Tới tối hôm đó, tướng Lebris cũng chưa cho lính đột nhập nội thành, chỉ đứng vòng quanh bao tới sáng hôm sau mới phá vỡ các phòng tuyến và đồn binh tại đó.

Cuộc chiến bắt đầu từ đó, tuy nhiên tướng Lebris cũng chẳng làm được gì hơn? Vì nghĩa quân Nguyễn Trung Trực từ Hưng Đông đã bủa vây ngược lại thành Gò Công, chia nhau rãi rác đóng theo các lũy tre trong thôn xóm, chờ chực Pháp quân tiến ra là tiêu diệt.

Trương Công Định đã đánh một trận oai hùng, không mất một người lính nào, dù rút ra khỏi thành, nhưng tinh thần tác chiến vẫn còn hăng hái, đêm đêm lòn lõi vào phóng hỏa các trại canh quanh vùng Pháp chiếm đóng làm cho quân Pháp ăn không ngon, ngủ không yên, ngày đêm hồi hộp vô cùng.

Sau khi chiếm đóng Gò Công, Pháp quân bị bên ta bao vây ráo riết không dám léo hánh ra khỏi đồn. Tình hình như vậy có hơn một tháng, bây giờ Trương Công Định mới xác nhận chiến thuật “ PHONG TỎA và TIÊU HAO“ của Nguyễn Trung Trực trong thời gian đó. Đồng thời, liên quân bảo vệ Gò Công còn dán nhiều bố cáo kêu gọi dân chúng không nên làm toi mọi cho giặc để hảm hại nước nhà, có lắm đoạn lâm li thống thiết như sau:

– Từ thuở Tây tà qua cướp nước, xưng tân trào gây sự oán thù. Chẳng phải dân Việt mắc nạn Trời, mà hởi ôi! Cả đất nước đều điêu linh tang tóc.

– Dân sa nước lửa, chầy ngày giặc ép mở dầu! hết sức cảnh đoan tình phụ tử, cảnh cốt nhục chia lìa, cảnh vợ yếu con côi vì đâu nên nổi?…

– Há chẳng phải giặc Tây tàn ác, há chẳng vì dân Việt muốn  sống còn. Hởi đồng bào già trẻ, gái trai, thà chết vinh hơn sống nhục. Không vì lợi lộc tước quyền mà cam bán đứng đồng bào cho loài lang cẩu.

Vì thế, tại Gò Công, dân chúng tìm cách lánh xa, hoặc dẹp hết cửa nhà gia nhập vào quân cơ của Nguyễn Trung Trực và Trương Công Định, nghĩa quân càng lúc càng đông.

Trước tình thế đó, Lãnh binh Nguyễn Công Nhân đã kết hợp các nguyện vọng của dân chúng làm sớ gởi về triều đình dâng lên vua Tự Đức. Xem qua, vua Tự Đức hớn hở mặt Rồng, tay vỗ án không ngớt lời khen ngợi, con dân biết lấy chữ trung làm chí khí.

Sau khi hỏi qua ý kiến triều thần, vua Tự Đức cương quyết theo ý dân ban chiếu chỉ cho dân được tự động thành lập dân quân tự vệ. Khái quát, bản văn có những điểm đáng nhắc như sau:

– “ Người Lang sa đến tại xứ Gia Định đã đặng  3 năm ( 1859 – 1961 ) làm rối cho Trẩm rất nhiều. Chúng nó triệt hạ thành, bắn giết quân cố thủ. Bởi đó các trung thần và Trẩm đều giận quá sức, nhứt là chúng dân Nam kỳ là người mà Trẫm tin tưởng hết thảy, đều sẵn lòng cùng binh sĩ Trẫm báo thù chung.

– “ Người Lang sa không phải đồng loại với chúng ta. Họ muốn hà hiếp chúng ta, và hảm hiếp thê tử chúng ta.”

Vậy ai xem đó là điều sĩ nhục hãy theo ta.

Mỗi người trung thần  hãy nghe lời Trẫm khuyên , hãy giục dân trổi dậy và lập ra các đạo binh theo thế nầy:

  • Kẻ nào chiêu tập được 10 người , sẽ lãnh chức Bá hộ.
  • Kẻ nào chiêu tập được 50 người, được lãnh chức Chánh lục phẩm suốt đời.
  • Chiêu tập được 100 người, lãnh chức Phó Vệ.
  • Chiêu tập được 200 đến 400 người, sẽ lãnh chức tùy theo phẩm trật.
  • Chiêu tập được 500 người, được lãnh chức Chánh Nguyên.
  • Ai bắt được người Lang sa, sẽ lãnh 4 nén bạc thưởng.
  • Ai giết được một lính Lang sa, được thưởng 2 lượng bạc.
  • Ai giết được một tên An nam giúp việc cho người Lang sa sẽ được lãnh một lạng bạc.

( chép theo sách Đại Nam quốc sử lược )

Được chiếu chỉ nầy, công cuộc kháng chiến tự vệ ở miền Nam nung sôi kịch liệt . Đâu đâu cũng thấy nổi lên các nhóm võ trang kháng Pháp. Nhưng vì ý chí mỗi người một khác, cho nên lực lượng toàn bộ chưa được động viên đúng mức.

 

THIẾU TƯỚNG LEBRIS MỞ CUỘC

BAO VÂY THÀNH THUỘC NHIÊU

NGHĨA QUÂN NGUYỄN TRUNG TRỰC

MỘT ĐÊM ĐÁNH SÁU ĐỒN.

 

Trong lúc đó, đồn Định Tường của Pháp không ngớt kêu cứu với tướng Bonard, nên tập trung binh lực các nơi tấn công vào khu Thuộc Nhiêu, là nơi tập trung đoàn binh chủ lực của ta. Đã nhiều phen họ muốn mở con đường từ Trung Lương lên đến Cái Bè, nhưng có binh của Lãnh binh đóng tại Thuộc Nhiêu nên chẳng thể nào mở đường được.

Tướng Bonard  ủy thác cho Tướng Lebris đảm trách cuộc tấn công nầy. Binh sĩ được huy động gồm 600 lính Tây, lính Việt chở từ Sài gòn xuống cho đổ bộ tại Cái Bè; và lính tại thành Định Tường gần 400 tên kéo thẳng theo đường làng tiến lên mãnh liệt. Cả hai lực lượng phân nhau bao vây ráo riết quanh các làng Phú Long, Tân Phú Đông, Nhị Bình, Dưỡng Điềm.

Trên đường thủy, hai tàu Amphitrite và Primauguet chạy dọc theo bờ  Cửu Long giang lên xuống miệt Phú Long, Hội Sơn, Vĩnh Mỹ canh chừng chẳng cho thuyền bè nào lấp ló. Nguyễn Công Nhân thình lình bị vây khốn, có ý muốn rút quân sang ấp Bắc để chạy vào Đồng Tháp cũng không còn kịp nữa, nên đành chia quân ra nhiều mặt để đối phó, bỏ trống đồn chánh như ông đã làm ở thành Định Tường.

Pháp quân cậy sức mạnh công phá đồn lũy, chưa quen đường sá nên không muốn đánh lẻ tẻ từng vùng. Khi được mật báo, Lebris hạ lệnh dừng binh đóng trại chờ ngày bên ta tập trung sẽ đánh úp thình lình.

Trong lúc nguy cấp, lãnh binh Nhân thảo ngay mật thư gởi cho Trương Công Định và Nguyễn Trung Trực , yêu cầu cứu viện kịp thời. Nhưng Trương Công Định quyết không chịu rời bỏ đồn Gò Công , và khuyên ngăn Nguyễn Trung Trực rút quân đi khỏi Hưng Đông.

Vì cụ Trương Công Định nhận định biết đâu giặc Pháp phô trương lực lượng ở Thuộc Nhiêu nhằm giải vây cho Gò Công. Sau cuộc bàn luận sôi nổi, đôi bên giao hẹn, một đêm quân binh của Trương Công Định tấn công mãnh liệt vào đồn Gò Công; còn nghĩa quân của Nguyễn Trung Trực chia đi khắp nẽo hợp sức với các toán quân tự vệ địa phương nổ súng, cướp đồn .

Ba hôm sau, giữa lúc quân Pháp còn bao vây chặt chẽ đồn Thuộc Nhiêu, chưa tiến đánh vào một điểm nào nhứt định, thì bổng một tin làm rúng động cả quân Pháp ở Nam kỳ: binh Việt cùng một đêm tấn công mãnh liệt vào 7 nơi. Có tin đồn rằng binh triều đình đã tràn vào cứu viện Nam kỳ trùng trùng điệp điệp, định trong một tuần lấy lại đất đai.

Tướng Lebris cấp tốc tháo vòng vây Thuộc Nhiêu, trả binh sĩ và tăng cường những nơi mới vừa bị đánh.

Cả một tuần sau, Lãnh binh Nguyễn Công Nhân mới hay tin binh của Trương Công Định dùng tên lửa bắn vào các đồn trại Pháp ở Gò Công gây được thiệt hại nặng nề . Còn các nơi khác như Tân An, Cần Giuộc, Cái Bè, Gia Thạnh, Bến Lức, Rạch Gầm đều do nghĩa quân Nguyễn Trung Trực áp đảo. Lãnh binh Nhân tức tốc dâng sớ lên vua Tự Đức xin thăng chức cho Trương Công Định và cấp phong cho Nguyễn Trung Trực.

Sau trận biến động kinh hồn nầy, Pháp tổ chức một cuộc họp mặt các tên cai quản  các đồn Pháp vừa bị tấn công, để báo cáo cho tướng  Ariès biết về các cuộc tấn công kỳ dị.

Tên Avezard ở Tân An hốt hoảng loan tin, có một đội hùng binh đang đóng dọc theo sông Vàm Cỏ, nghe nói gồm nhiều dân Miên, chưa biết từ đâu tới.

Còn tên D’ Arfeuille lo âu cho số phận đồn Gò Công, vì suốt hơn tháng trường bị bao vây, nay bị áp đảo. Chắc chắn bên quân Việt có phần lấn thế, nên tướng nầy yêu cầu phải có hai tàu chiến thường trực tại vàm Rạch Lá phòng khi bất trắc.

Tên Dumong vừa nói thêm, trận chống trả tại Cần Giuộc trăm phần quyết liệt , làm cho tướng  Ariès  xám mặt . Dumong cam kết rằng bất cứ nơi lùm cây đám lá nào giờ cũng có Việt quân.

Ngoài ra các tên khác như Fineau , Robinet, Bottet và Gonon phụ trách các vùng Cái Bè, Gia Thạnh phải lắc đầu than thở, hải khiếp cho cuộc tiến đánh thình lình vừa qua.

Ariès ngẩn ngơ, không ngờ có một đổi thay nhanh chóng đến như thế, bèn đưa tướng Lebris về Sài gòn cấp báo mọi điều cho tư lệnh Bonard rõ.

Với những trận đánh vô cùng linh hoạt kể trên, người đời sau nhắc đến với một lòng cảm phục vô biên. Nguyễn Trung Trực sử dụng chiến thuật đánh vòng ngoài đễ giải tỏa trung tâm, đánh đồn nhỏ để phá tan thế lớn, giành thế chủ động hoàn toàn. Chứng tỏ Cụ Nguyễn Trung Trực đã tỏ ra xuất sắc trong hồi đầu chống Pháp tại Nam kỳ.

Lãnh binh Nguyễn Công Nhân dâng sớ lên vua Tự Đức sắc phong cho người anh hùng. Triều đình chính thức nhìn nhận chức Quản cơ, đồng thời Vua hạ chiếu ngợi khen khuyến khích.

Thế lực nghĩa binh bành trướng mạnh và mau lẹ khắp các vùng Thuộc Nhiêu, Thủ Thừa, Bến Lức rồi đến Mỹ Thạnh qua Phước Lý, Long Thành. Vai trò Ông Nguyễn nổi bật hẳn lên so với các Lãnh binh trấn thủ các tỉnh.

Nghĩa quân càng đánh đồn, binh Pháp càng điên cuồng tàn sát dã man để lung lạc tinh thần dân chúng.

Trong lúc đó, phe chủ hòa tại triều đình thắng thế, đầu tháng 5 năm 1862, vua Tự Đức giáng chiếu cử Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Nam thương nghị với Pháp. Ngày 05 tháng 6 năm 1862, Hiệp ước đầu tiên với Pháp được ký kết, bên ta có Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp, bên Pháp có tướng Bonard và Palanca của Tây Ban Nha. Theo bản Hiệp ước nầy, nước ta phải nhượng đứt ba tỉnh miền Đông Nam kỳ cho Pháp là : Gia Định, Biên Hòa và Định Tường cùng với đảo Côn Nôn. Ngoài ra, Pháp còn bắt triều đình ta bồi thường 4 triệu đồng chiến phí. Đây là một Hiệp ước hết sức bất bình đẳng.

Dân chúng Nam kỳ cực lực phản đối, đồng bào khắp nơi không cần đếm xỉa gì đến bản Hiệp ước ấy, người người vẫn mài gươm, dượt võ và nhất định tham gia vào hàng ngũ nghĩa quân.

Lãnh binh Nguyễn Công Nhân mời hai vị lãnh đạo nghĩa quân là Trương Công Định và Nguyễn Trung Trực hội kiến và kêu gọi hai vị hãy tuân theo lệnh triều đình hạ vũ khí, không được làm việc lỗi đạo, e có tội về sau . Trương Công Định tánh tình nóng nẫy, không nói một lời gì, bỏ phứt ra về. Riêng Nguyễn Trung Trực hết lời phân giải với vị Tổng trấn Định Tường. Trên thế gian không có việc gì là vĩnh cửu, dù Hiệp ước đã ký, nhưng nếu thế dân mạnh, giặc Pháp sẽ nể nang, lo dàn xếp  để giao hảo trên điều kiện nhẹ nhàng hơn. Bằng như ta xếp giáp, qui hàng một cách dễ dàng, giặc được trớn sẽ lấn thêm, thì ta còn đợi gì không huy động lòng dân đặng dìm thế giặc.

Lãnh binh Nhân dâng sớ về triều đình, vua Tự Đức bèn gởi mật thư cho Phan Thanh Giản căn dặn nên trực tiếp hội kiến với nhóm của Nguyễn Trung Trực và Trương Công Định khuyên can họ tạm thời chờ đợi, chẳng nên quấy rối.

Nghe xong, Trương Công Định ầm ầm nổi giận, nhứt quyết tuyên bố diệt xâm lăng, dù Đức Hoàng đế bắt tội thế nào vẫn không bỏ qua được những nổi đau đớn thống thiết của nhân dân.

Còn về phần Nguyễn Trung Trực, ông cho rằng triều đình ký kết Hiệp ước với Pháp là một lẽ, còn lòng dân chưa khuất phục được ngoại bang là lẽ khác, hai vấn đề không can hệ nhau chút nào. Vã lại, nay bắt buộc nghĩa quân bỏ khí giới tức là tạo điều kiện cho Pháp chiếm trọn Nam kỳ. Còn đương cự lại, họa may cụ Phan có cơ thương lượng với Pháp để sửa đổi một vài khoản nặng nề đã buộc lòng phải ký kết.

Thế là sau đó, hai đội quân của Nguyễn Trung Trực và Trương Công Định  tiếp tục chiến đấu, phá rối khắp nơi. Lúc thì giết lính Pháp vào làng hà hiếp dân chúng, khi lại bắt cóc những ai mưu toan cùng đồn bót để lãnh việc làm hương chức hay điềm chỉ. Không ngày nào, đêm nào không xãy ra những cuộc đột kích của nghĩa quân. Tướng Bonard phẩn nộ, chánh thức gởi công điệp đòi cụ Phan Thanh Giản phải thanh toán cho xong các toán quân nầy.

Lòng dân khắp nơi phẩn uất, yêu cầu phải đánh đuổi bọn Lang sa, chỉ có phương pháp đánh mạnh hơn, mới làm cho Pháp kinh tởm không dám bành trướng thêm sự xâm chiếm mà thôi. Do vậy, các cuộc mưu sát , chống báng với thực dân Pháp cứ diễn ra mãi, nào Trương Công Định tự ý tung hoành, Nguyễn Trung Trực càng đánh hăng hơn, rồi Cần Vương nổi dậy, bình Tây sát tà hoạt động ráo riết.

Nhiều phong trào khởi nghĩa bùng lên ở Bà Rịa, Biên Hòa cuả Quản Sự lấy căn cứ ở Vũng Nứa, núi Ông Trầu. Ở Long Hồ các nhân sĩ hợp lực với sự điều khiển của các vị Thần đàn cựu trương cờ Cần Vương. Trương Huệ ở Tây Ninh bạo động ven núi Bà Đen. Vùng Vĩnh Long, Sa đéc, Bến Tre, Trà Vinh dân chúng kéo nhau theo hai vị công tử Phan Tôn và Phan Liêm quyết giữ đất đai làng mạc. Kế đến Quản Hớn khởi nghĩa tại 18 thôn vườn trầu. Tại Ba Động có nhóm Nguyễn Xuân Phụng. Tại Tân An có nhóm Thái Văn Nhíp.

Tình trạng rối ren, làm cho Pháp lo âu, có muốn tiến đánh luôn ba tỉnh miền Tây cũng chưa dám tiến đánh được.

Liên quân Nguyễn Trung Trực và Trương Công Định áp đảo ráo riết, làm cho đồn Gò Công không chịu nổi, phải rút quân về thành Gia Định, vào đầu tháng 12 năm 1862.

Sau khi ký Hiệp ước thành công, Tướng Bonard đệ đơn lên Pháp Hoàng xin về nghỉ. Chánh phủ Pháp liền cử Hải quân Thiếu tướng De La Grandière  sang thay.

Ngày 25 tháng 5 năm thứ 16 đời vua Tự Đức ( 1863 ), vua cử ba vị đại thần là cụ Phan Thanh Giản làm Chánh sứ, cụ Phạm Phú Thứ làm Phó sứ, và cụ Nguyễn Khắc Đãn làm Bồi sứ sang Pháp thương nghị xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam kỳ.

Cuối năm 1863, được Nã Phá Luân đệ tam tiếp kiến, sau khi xem xét qua bản điều trần ngoại giao và lễ vật, Ông ta tỏ ra hài lòng và hứa trước văn võ bá quan rằng: Ta sẽ cho người sang tại Việt Nam để giải quyết vấn đề chuộc đất.

Pháp Hoàng cử Trung tá hải quân Aubaret, người rất thông thạo chữ Hán và chữ Việt sang nghiên cứu tình hình để thực hiện những lời cam kết với Sứ bộ ta tại Pháp. Nhưng khi đến Sài gòn, Aubaret nghe Tướng De La Grandière báo cáo nội tình của ta ở Nam kỳ, bèn thay đổi ý kiến ngay.

Từ giữa năm 1862 đến giữa năm 1863,  Trương Công Định giữ vững được Gò Công. Trong lúc ấy, Nguyễn Trung Trực phải điều binh nhiều lần công phá Phú Lâm, Bà Hom, Tân Hóa, Bến Lức, Tân An…Ngày 16/12/1862, dưới sự chỉ huy của Quản Lịch, Ba chiến hạm ( lorcha ) đậu trên Vàm Cỏ Đông để kiểm soát sự lưu thông trên sông ấy, bị tấn công dự dội. Một trong ba chiếc ấy, chiếc số 3, đậu trên mé nguồn sông, dưới Tây Ninh một đỗi, bị công hãm bổi nhiều ghe có trí súng thần công, viên sĩ quan chỉ huy tàu bị thương nặng…Đây chính là trận sông Tra, thuộc xã Hựu Trạch, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An ( ngày nay), sông Tra chảy đến làng Hựu Thạnh, đổ ra tả ngạn sông Vàm Cỏ Đông, đây là một trận hợp đồng chiến đấu của nghĩa quân tấn công đoàn tiểu hạm đang đậu trên sông Tra và các đồn bót của Pháp trên bờ; cùng lúc đó, ngày 17/12/1862, một trận đánh vào đồn Rạch Tra (Gò Công ), tên đại úy Thouroude và lính Vidal bị giết chết; và ngày 18/12/1862, tấn công bót Thuộc Nhiêu ( Mỹ Tho). Một chiếc khác ở trên sông Bến Lức, bị nghĩa quân dùng dây đỏi kéo tàu chạy cho mắc cạn, rồi đồng thanh tấn công tàu giặc… Qua trận sông Tra, nghĩa quân của Nguyễn Trung Trực đã có dịp thử thách, nâng cao trình độ tác chiến, biết hợp đồng chiến đấu, tấn công địch trên một địa bàn rộng và phối hợp lực lượng đánh thủy chiến lẫn công đồn.

Tướng De La Grandière một mặt phòng thủ, mặt khác cho người xâm nhập vào hàng ngũ của Ông Trương để mua chuộc, và De La Grandière thành công khi mua chuộc được thủ hạ của Ông Trương là Huỳnh Công Tấn. Do sự điềm chỉ của Huỳnh Công Tấn, mà các cuộc di quân và chống trả của nghĩa quân cụ Trương luôn chuốc lấy thất bại nặng nề.

Cuộc chiến đấu kéo dài đến tháng 8 năm 1864, Trương Công Định bị phản tặc Huỳnh Công Tấn tin cho giặc Pháp đến phục kích tại Kiến Phước để hãm hại một chuyến di quân của tướng lãnh mình. Cụ Trương đã bỏ mình trong cuộc chiến đấu ác liệt giữa đêm 19 rạng ngày 20/8/1864 với hơn 20 vệ sĩ trung thành trước số quân đông đảo của giặc Pháp.

Nguyễn Trung Trực hay tin nầy khi đang đồn binh tại Thủ Thừa, ôm mặt khóc, rồi rút gươm chỉ về hướng Gia Định thành thề sống chết cùng quân xâm lược Pháp để trả thù cho chiến hữu. Ông Nguyễn đích thân thảo thông báo cho nghĩa quân mang đi  gởi khắp các Lãnh binh trấn thủ các tỉnh Nam kỳ kêu gọi sự hưởng ứng gây phong trào căm thù giết giặc khắp mọi nơi.

 

—o0o—

 

PHẦN BỐN

 

CHUYỂN SANG THẾ CHIẾN MIỀN  NÚI

Thuở ấy, chỉ có dọc theo bờ sông Cửu Long và quanh thành An Giang mới có xóm làng người Việt ta ở, còn ở các đầm, lung, ven chân núi chỉ toàn người Miên thôi. Vị Lãnh binh An Giang là Phan Khắc Thân nghe tin nghĩa quân Nguyễn Trung Trực tới nơi, hâm hở sai quân mang thơ đến mời Người hội kiến. Thật ra, từ trước tới nay, Ông Phan chỉ nghe danh chớ chưa biết mặt cụ Nguyễn, nên rất tỏ lòng ái mộ. Dân chúng An Giang thấy nghĩa quân cụ Nguyễn không ngớt theo chân từ toán quân để thăm hỏi tình hình về thế giặc đang chiếm đóng miền Đông. Nhiều thóc gạo, trâu, bò được mang đến nườm nượp tiếp tế cho nghĩa quân và ước mong gặp vị Tướng lãnh từng đốt tàu giặc tại vàm Nhựt Tảo.

Nhưng khi thấy mặt rồi, ai nấy đều không xiết ngạc nhiên, Ông Nguyễn chỉ có một thân hình nhỏ, người lanh lẹ , tỏ ra bặc thiệp trong lúc tiếp xúc chuyện trò, thế thôi…Chẳng có gì đường đường võ tướng như người ta suy tưởng trước kia. Với chiếc áo màu chàm của năm nào chuyên nghề chài lưới, hôm nay cũng vẫn nó, có khác chăng là ở chỗ bạc màu.

Lúc đến ra mắt Lãnh binh Phan Khắc Thân tại doanh trại, vị trấn thủ An Giang cũng ngạc nhiên hơn ai hết, ở chỗ Ông Nguyễn chẳng ăn mặc sắc phục trào đình. Hỏi ra thì vị Lãnh tụ nghĩa quân tự nhiên đáp: “ Nước có loạn, người tôi trung được đánh giá xuyên qua hành động giết giặc cứu nước nhiều hơn cân đai, trật phẩm của trào đình, với dân cư là  thế ấy. Còn đối với tướng sĩ, cái dũng, cái trí, cái nghĩa khắc phục người chiến hữu nhiều hơn là tiếng hò hét dõng dạc .” Ông Phan khâm phục thêm Ông Nguyễn và băng khoăn hỏi rằng phỏng giặc Lang sa có tràn đến An Giang chăng?

Sau khi trình bày tường tận về thế địch, thế ta, qua các trận đánh thất thủ miền Đông, Ông Nguyễn kết luận: “ Chắc như đồn Kỳ Hòa, có tướng giỏi như Nguyễn Tri Phương mà đất Gia Định chẳng thủ được bao lâu, hà huống gì các nơi chiến tướng ta chưa kinh nghiệm, thành ta thật chưa vững chãi, cho nên không thể gọi là giặc không thể đến An Giang.

Phan Khắc Thân kinh hoảng xin Ông Nguyễn cho biết ý kiến xây chiến tuyến phòng ngự, để chống giặc có hiệu quả, thì Ông Nguyễn chỉ cười và nói rằng: Địa thế đất An Giang có hơn Gia Định và Định Tường, ở chỗ có núi non hiểm trở . Trời đã tạo cho ta những chướng ngại thiên nhiên đó rồi, bây giờ cần thêm chiến tuyến họa chăng là lòng dân, thì ngày nào đó ta quật khởi, ta còn tin được ở sức người. Chớ như vách đất, tường đá cũng khó chịu được hỏa lực của đại bác, thần công.

Lãnh binh trấn An Giang thấm thía vô cùng, định san sẽ binh lực cho Ông Nguyễn để tăng cường nghĩa quân, nhưng Ông Nguyễn không chịu nhận, chỉ xin được mộ tân binh ở những nơi Ông chiếm đóng, cũng như toàn quyền giáo luyện dân chúng địa phương, vung gươm, múa kiếm, dàn thế trận, học giáp chiến…là được rồi.

Vùng núi Cấm qua Thất Sơn, theo chân núi mà nghĩa quân chiếm đóng, dân cư ở đó là người Miên, thấy người kinh đến đã hoảng sợ rút lên đỉnh núi, bỏ cửa nhà. Nghĩa quân phải khổ công len lõi tìm họ về nhà tiếp tục làm ăn. Sau đó chẳng bao lâu, qua cách ăn ở của nghĩa quân Ông Nguyễn đã khiến họ phục được, thương được, nên họ vui lòng chỉ dẫn đường , chỉ nẽo, để cho ai nấy đều biết được đường đi lối lại ở địa phương, từ cánh đồng lầy đến con rạch nhỏ…Trong vòng một tháng, nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đã am hiểu tất cả địa thế núi non, và thu phục được số lớn người dân Miên , làm cho họ hăng hái mài lao, vác búa, xin tình nguyện theo Ông Nguyễn làm lính đánh Tây.

Do tính cẩn thận và hay nghi ngờ của quan trấn thủ An Giang, ông đã tìm đến Cụ Nguyễn và hỏi: Người Miên có thù oán với Ông Cha ta, thâu nhận họ vào làm lính, chẳng sợ hại về sau chăng ?

Cụ Nguyễn Trung Trực mĩm cười đáp: Trước họ thù oán Ông Cha ta đuổi họ để chiếm đất, bây giờ họ sẽ thù oán Tây tà ở xứ xa đến giựt đất đai. Họ theo ta để giết giặc cũng là để giữ đất đai, nhà cửa, sự sản nghiệp của họ. Họ với ta nay là chung cảnh, bảo sao có điểm dị đồng  để thú oán nữa được.

Nghe tin Thủ Khoa Huân bị giặc bắt, được cụ Phan lãnh về đang giam lỏng tại thành Long Hồ, từ Thất sơn, Nguyễn Trung Trực cấp tốc cho 5 đội nghĩa quân bôn ba xuống ranh giới Long Hồ đón rước toán quân của Ông Huân, và đưa một số quân tinh nhuệ giả dạng thường dân len lõi vào thành Long Hồ trao mật thư cho Thủ lãnh để rước Ông Huân về núi.

Lãnh binh Trương Công Uyển trấn thủ Long Hồ đối xử với Thủ Khoa Huân như tình chiến hữu, nên ông Huân có thể đi lại dễ dàng các xóm ngoại thành. Cuộc đón rước Thủ Khoa Huân nhờ đó mà dễ dàng lắm vậy.

Đến khi biết được Thủ Khoa Huân cùng đồng đội đã kéo sang đất An Giang cả rối, tướng Ariès vô cùng tức giận, đổ lỗi cho cụ Phan Thanh Giản cố tình dung dưỡng nghĩa quân. Đồng thời tên Việt gian Huỳnh Công Tấn thọc mạch là chính cụ Phan Thanh Giản muốn “ thả cọp về rừng” , nên tướng De La Grandière nhứt định lấy cớ đó để uy hiếp luôn ba tỉnh miền Tây.

Trước tiên, hắn xuống lệnh cho Doudart de Lagrée, phụ trách thủy quân Pháp đóng ở Oudong ( Cao Miên ) mang hai tàu Jeanne d’ Arc và Marseille chở hơn 500 lính xuôi dòng Cửu Long xuống neo trước mặt thành An Giang. Mặt khác hai chiếc Primauguet và Amphititre chong đại bác hùng hổ chạy sang Long Hồ, có De La Grandière đứng chỉ huy. Một bức tối hậu thư gởi cho cụ Phan Thanh Giản, hẹn nội ngày phải giao trả Thủ Khoa Huân, bằng không Pháp sẽ hạ cả thành An Giang và Long Hồ một lượt, vì lẽ bên Việt Nam không thành thật với Pháp.

Cụ Phan Thanh Giản rối rắm, đứng trước tình thế cấp bách, buộc lòng viết thư gởi cho Lãnh binh trấn thủ An Giang, mời giao trả ông Huân cho tướng De La Grandière ngay, để quân sài lang không còn cớ gí gây hấn được.

Viên thơ lại mang bức thư của cụ Phan, được Pháp cho ngồi tàu chiến Amphititre chạy lên An Giang, trong lúc đó chiếc Primauguet chở Lagrandière về Định Tường.

Nhưng trấn thủ Phan Công Thân viết thư phúc đáp rằng ông chỉ nghe nói Thủ Khoa Huân vượt ngục tại Long Hồ sang trú ngụ tại vùng núi Thất sơn, thiệt hư thì chưa biết rõ.

Doudart de Lagrée không chịu, cương quyết đòi Phan Công Thân phải giao trả chiến phạm trong ngày, nếu không rạng sáng hôm sau sẽ hạ thành An Giang. Thế rồi hắn cho bắn 20 phát đại bác lên trời thị uy, gây náo động cho dân chúng.

Nghĩa quân từ khi hay tin Pháp quân dàn trận trước thành An Giang, đã chuẩn bị sẵn sàng để đối phó, một khi chúng đổ bộ vào bờ. Lãnh binh Thân mời cụ Nguyễn hội kiến bàn biện pháp đối phó với giặc Pháp.

Theo ý kiến của cụ Nguyễn, thì không thể nào giữ nổi thành An Giang, một khi bọn Pháp mở đợt tấn công. Chi bằng rút quân ra đóng ở làng mạc, bỏ trống thành trì cho bọn chúng tự do chiếm đóng, và sau đó mới thừa thế đánh úp thì hơn. Nhưng lãnh binh Thân không chịu bỏ thành, vì đó là điều ô nhục, thà tử trận tại thành, cương quyết chống lại giặc đến người lính cuối cùng. Biết không thể can ngăn được, cụ Nguyễn xin cho mời cụ Thủ Khoa Huân tới nơi tham luận.

Vị trấn thủ An Giang mừng lắm, mọi vấn đề chỉ tập trung ở Thủ Khoa Huân, Pháp muốn đòi, bên ta muốn giữ. Vận mạng ba tỉnh miền Tây khó giải quyết tại đây. Có Thủ Khoa Huân là có cơ định đoạt.

Giữa đêm khuya ấy, người ta thấy Thủ Khoa Huân tự trói mình, lặng lẽ đi vào thành An Giang tự nạp mình đặng cứu vãng mọi tình thế. Chỉ có điều ông tha thiết là còn mẹ già đang ở Vĩnh Kim, mong các anh em chiến hữu thay ông mà phụng dưỡng.

Sáng hôm sau, Phan Công Nhân, nhân danh Lãnh binh trấn thủ thành An Giang, nghiêm trang trong sắc phục triều đình, ngồi thuyền “ Quí Phượng” giải Thủ Khoa Huân, người chiến phạm quan trọng ra tận tàu Jeanne d’Art hiến nạp cho tướng Doudart de Lagrée. Nhìn địch thủ một cách chầm chậm, tướng Pháp nở một nụ cười khoái trá, hạ lệnh cho tàu chiến nhổ neo, xuôi dòng chạy về Định Tường, tàu Pháp từ từ mất dạng, dân chúng ngậm ngùi rơi lệ nhìn theo.

Vào đầu tuần tháng 6 năm 1864, Aubaret đến Huế xin yết kiến vua Tự Đức, nhà vua ban chỉ dụ triệu cụ Phan Thanh Giản về triều để mở cuộc thương thuyết với Pháp. Sau hơn một tháng đàm phán, ngày 15/7/1864, một bản Hiệp ước mới được ký kết và công bố tại Huế. Đại diện bên Pháp là Aubaret, bên ta đại diện có cụ Phan Thanh Giản, Trần Tiến Thành và Phan Huy Vinh.

Nội dung bản Hiệp ước gồm 22 khoản sửa đổi toàn bộ Hiệp ước 1862, Pháp chịu trả lại nguyên vẹn lãnh thổ Việt Nam, nhưng xin được bảo hộ 6 tỉnh Nam kỳ ( khoản thứ 4 giải thích chữ bảo hộ không có nghĩa lệ thuộc gì hết), và triều đình Huế cho Pháp tự do mua bán , đi lại ở các cửa lớn như Đà Nẳng, Quảng Yên, Bá Lạc….nhường đứt quyền cai trị trực tiếp cho Pháp : thành Sài gòn, Chợ Lớn, Thuận Kiều, đồn Thủ Dầu Một, đồn Mỹ Tho, Bãi Gành Rái, sông Sài gòn, núi Nứa, cửa Tiểu, cửa Đại và đảo Côn Nôn.

Tuy nhiên còn khoản thứ 19 về bồi thường chiến phí, nên Aubaret chưa dám ký, còn phải đợi phúc trình cuả Chính phủ Pháp. Nhưng trong khoản thời gian ấy, tên Huân tước Chasseloup Laubat cực lực bài bác ý kiến thay đổi Hiệp ước. Hắn kêu gọi Chính phủ Pháp sáng suốt hơn, chỉ chấp thuận Hiệp ước mới khi triều đình Huế bắt Nguyễn Trung Trực giao cho Pháp toàn quyền định đoạt. Thành ra Hiệp ước 1864 dầu đã ký, nhưng không có giá trị gì cả.

Trong khoản thời gian ấy, Pháp đưa cụ Thủ Khoa Huân xuống tàu đài sang đảo Réunion. Được tin ấy, hai cụ Phan Tôn và Phan Liêm chiêu binh, mở một lò rèn lớn để rèn đúc khí giới. Nhiều vị cựu thần đến hợp nhau để luận kế bày mưu. Đảng cựu ra đời từ đó. Đảng cựu ra lời hiệu triệu, dân cư hưởng ứng rất là đông đảo, các vị bá hộ góp tiền, góp lúa rất nhiều, huyện Tam Bình trở thành một nơi đồn binh rất quan trọng.

Quản cơ Lê Đình Vận nay ra mặt lảnh luyện tập một cơ binh. Được tin nầy, Nguyễn Trung Trực vui mừng vô hạn, tự viết thư mừng Đảng cựu thành công. Đồng thời, Quản cơ Luyện đưa ra ý kiến nên viện quân của Nguyễn Trung Trực về giúp sức. Huyện Nguyện đích thân viết thơ tha thiết với ông Nguyễn, rằng Đảng cựu quyết chiến để trả thù cụ Huân, quyết chiến để bảo vệ cụ Nguyễn, vậy thì lẽ gì nghĩa quân lại làm ngơ không về hợp tại Tam Bình để định ngày khởi nghĩa.

Quản cơ Lê Đình Vận  nhận trách nhiệm đem thơ đến gặp cụ Nguyễn, hai bên giáp mặt nhau tại núi Tượng, chuyện trò nhau suốt đêm. Sau cùng, Nguyễn Trung Trực vạch lẽ nên hư với Lê Đình Vận: “ Đâu vì điều hiến nạp ông Huân mà ta buồn thảm. Đâu vì lẽ Pháp quân đòi lấy đầu ta mà dạ ta sờn, chí ta vững như núi đá mà mưa rào lại uyển chuyển tựa khói bay. Khói thì quyết vượt đến chót vót lưng trời, để tạo mưa móc gội nhuần cho thế gian thì bảo sao núi nằm trong trời đất có thể di chuyển được, nếu chẳng có mệnh trời? Tuy nhiên, Ông không phụ lòng Đảng cựu đã nghĩ đến Ông nhiều, nên cất cánh quân tinh nhuệ giao cho Lê Đình Vận kéo về phụ lực với Đảng cựu mưu đồ đại sự sau nầy.

 

ĐẢNG CỰU RƯỚC ĐỒ CHIỂU, NGUYỄN TRUNG TRỰC

XUỐNG TAM BÌNH, ĐÍCH THÂN ĐỌC VĂN TẾ NGHĨA QUÂN

 

Sau khi Đảng cựu được thành lập, huyện Nguyện được tín nhiệm giao cho chức lãnh tụ, hai ông Phan Tôn, Phan Liêm lảnh quân cơ và sự vụ, dân chúng hưởng ứng đông đảo kéo nhau về Tam Bình gia nhập đội Cần Vương phục quốc. Nghĩa quân Nguyễn Trung Trực từ Thất sơn được lệnh kéo về hai cánh để tăng cường.

Quản cơ Lê Đình Vận là người hăng hái nhất, muốn kéo binh đánh Cái Bè, nhưng hai ông Phan Tôn và Phan Liêm muốn đánh Bến Tre, Gò Công. Sau khi thảo luận, Nguyễn Trung Trực tán thành ý kiến của Phan Tôn và Phan Liêm là chuyển quân xuống Bến Tre và Gò Công, vì sau khi Trương Công Định mất, ý thức giết giặc cứu nước đã hầu như chìm hẳn đi rồi. Khi nghĩa quân trở lại sẽ phát động phong trào lan rộng gợi lại căm thù trong lê dân sĩ thứ. Đồng thời, ông Nguyễn khuyên huyện Nguyện nên rước cụ Đồ Chiểu về để kịp thời hợp lực, vì ngòi bút của con người ấy có thể động viên hiệu quả được dân tâm.

Cụ huyện Nguyện không hết lời tán thưởng cụ Nguyễn, thảo ngay một bức thư tha thiết thỉnh cầu cụ Đồ Chiểu, và cho một toán quân trung kiên lên Biên Hòa rước cụ Đồ Chiểu. Nhưng cụ Đồ Chiểu đã tỏ ra chán nản thời thế, mất tin tưởng ở triều đình, Cụ tràn trề giọng lệ mà ngâm lên rằng:

Xe ngựa lao xao, giữa cỏi trần,

Biết ai Thiên tử, biết ai Thần?

Nhạc thiều tiếng dứt, không tìm Phụng

Sách Lổ chôn rồi, chẳng thấy Lân,

Khỏe mắt Hi Di, trời Ngủ Quỉ

Nhọc lòng Gia Cát, đất tam phân,

Công danh chi nữa, ăn rồi ngủ,

Mặc lượng cao dầy, xử với dân.

Biết vậy, toán người đi rước cụ hết lòng nài nỉ và cam kết rằng việc nầy do ông Nguyễn Trung Trực đề xướng, hiện ở Tam Bình có hai cánh quân của cụ Nguyễn về hiệp lực. Có như vậy, cụ Đồ Chiểu mới bằng lòng thu xếp theo đoàn về Tam Bình.

Hơn nửa tháng, đoàn mới về đến Tam Bình, nhưng cụ Nguyễn đã về bảy núi, nên cụ Đồ Chiểu không vui lắm, nổi rầu rầu luôn hiện lên nét mặt. Thấy vậy, huyện Nguyện biết mình không đủ uy tín đối với nhà nho giàu khí phách, nên tức tốc cậy nghĩa quân về núi thỉnh cầu cụ Nguyễn xuống. Quả vậy, khi cụ Nguyễn xuống tới nơi, Cụ Đồ Chiểu vuốt ve, rờ rẫm khách anh hùng, đoạn ngâm nga bài thơ “ Quan Công cảm tác”, thơ rằng:

Tấm lòng ngay Chúa thấu trời cao

Năm ải không ngừng một lưỡi đao.

Núi đất ba lời gìn nghĩa Hớn,

Sông vàng hai trận trả ơn Tào.

Cuốn kinh bác loại tay nầy mỏi,

Ngọc đuốc phò nguy, gió đề xao,

Phải thuở Kinh Châu mà giữ chặc

Ngụy, Ngô hai nước há nài bao.

Cụ Đồ Chiểu ví Nguyễn Trung Trực như Quan Công, ngợi khen khí phách anh hùng chống giặc suốt mấy năm, dầu có thu quân về núi, vẫn không quên nghĩa cả non sông. Mấy trận đánh tàu chống giặc, dân Việt ghi công ngàn thuở. Tuy nhiên, Ông Nguyễn luôn nhắc tới người chiến hữu Thủ Khoa Huân đang  bị lưu đày và khâm phục tài ba văn chương thiết dụng của cụ Đồ Chiểu để kết luận rằng: “ Anh hùng thường được sinh ra bởi thời thế, và có chuyển được thời thế đúng với ý dân, người anh hùng ấy mới xứng đáng muôn thuở.”

Sau đó, một lễ truy điệu nghĩa quân được tổ chức long trọng tại Tam Bình, để gợi lại lửa lòng phẩn uất của dân cư với quân Pháp bạo tàn, nhắc nhở anh linh những ai vì nghĩa cả mạng vong trong muôn một. Cụ Đồ Chiểu được giao phó thảo bài văn tế và nhường danh dự chủ tế cho Nguyễn Trung Trực.

Ngày 11/12/1961, nghĩa quân đại thắng quân Pháp trên Vam Nhựt Tảo. Ngày 11/12/1964, ba năm sau, cụ Nguyễn đọc văn tế nghĩa quân tại Tam Bình. Chính người chủ tế lại là người chỉ huy đại tài đứng lên dõng dạc đọc bài văn tế. Có nhiều đoạn lâm ly  ai oán, từ binh sĩ đến tướng tá đều cầm lòng không đậu, còn đồng bào tham dự thì đều òa lên khóc dữ dội, nhứt là các cụ lão, dậm đất kêu trời, oán trách thằng Tây ác lắm…

Giờ đây, ta có thể đọc lại bài văn tế ấy, để hình dung lại sự nghiệp oai hùng bất diệt của nghĩa quân.

Hởi ôi!

Súng giặc đất rền,

Lòng dân trời rõ.

Mười năm công vở ruộng, chưa ắc còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa quân đánh Tây, thân tuy chưa mất, nhưng tiếng vang như mõ;

Nhớ lính xưa !

Côi cúc làm ăn. Riêng lo nghèo khổ, chưa quen cung ngựa đưa tới trướng nhung. Chỉnh biết ruộng trâu, ở theo làng bộ. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm.

Tập khiên, tập mác, tập dáo, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

Thế mà:

Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin Quân như Trời hạn trông mưa.

Mùi chinh chiến vây vá đã  ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

Đêm thấy bòng bông che trắng lớp, những muốn ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen xì, toan ra cắn cổ.

Một mối xa thơ đồ sộ, há để ai chém rắn, đuổi hưu, hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó.

Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen nầy xin ra sức đoan kình;

Chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến nầy dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay:

Vẫn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo giòng ở lính diển binh.

Chẳng qua là dân ấp, dân làng, mến nghĩa làm quân chiến mộ

Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn,

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

Ngoài cốt só một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngời.

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao to. Nón gỗ.

Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia.

Gươm đao dùng một ngọn dao phay, cũng chém được đầu quan hai nọ.

Chỉ nhọc quan Quản gióng trống kỳ, trống dục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không.

Mặc kệ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào liều mình như chẳng có.

Kẻ đâm ngang, người chém dọc, làm cho mả tà ma ní hồn kinh;

Bọn hé trước, kẻ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng, súng nổ?

Những mong lòng nghĩa lâu dùng,

Dậu biết xác phàm vội bỏ.

Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây trung.

Trăm năm âm phủ ấy chữ qui, xá đợi gươm hùng treo trước mộ.

Đoái công Cần Giuộc, cỏ cây mấy dậm sầu giăng,

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ.

Chẳng phải án cướp, án gian, đày tới mà đi binh đánh giặc cho cam tâm,

Vốn không giữ thành, giữ lũy bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng :

Tất đất, ngọn rau, ơn Chúa, tài bôi cho nước nhà ta,

Bát cơm, manh áo, ở đời, mắc mớ chi ông cha nó?

Vì ai khiến quân khó nhọc, ăn tuyết, nằm sương,

Vì ai gây hào lũy tan tành, xiêu mưa ngã gió?

Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, nghỉ lại thêm buồn.

Sống làm gì ở lính mả tà, chia rượu lạt, gậm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

Thà thác mà đặng cân đai địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh.

Hơn là còn chịu chữ đầu Tây, ở với man ra rất khổ.

Ôi thôi thôi !

Chùa lão ngộ, năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gởi lại bóng trăng rầm,

Đồn Lang sa một khắc được trả hờn, tủi phận bạc trôi theo giòng nước đổ.

Đau đớn bấy: me già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều,

Não nùng thay: vợ yếu chạy tìm chồng, coi bóng xế dật dờ trước ngỏ.

Rồi:

Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

Binh tướng nó hãy còn đóng đông sông Bến Nghé, còn làm cho bốn phía mây đen,

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ?

Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn, sáu tỉnh cũng đều khen.

Thác mà cũng đền miếu, đền thờ, tiếng hay trãi muôn đời ai cũng mộ.

Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia.

Sống thờ Vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã đành rành, một chữ ấm cũng đủ đền ơn đó.

Nước mắt anh hùng lau chẳng ráu, thương vì hai chữ thương dân.

Cây nhang nghĩa khí thắp thêm thơm, cảm bởi một câu vương thổ.

Hởi ôi ! có linh xin hưởng.

Người sống đây tưởng thưởng muôn vàng.

 

—o0o—

 

 

TIẾNG VANG CỦA NGHĨA QUÂN NGUYỄN TRUNG TRỰC

 

Từ ngày bài văn tế nghĩa quân đọc lên tại Tam Bình, lòng dân bổng sụt sôi sôi nổi, câm hờn vô tận, từ già chí trẻ ai ai cũng định bỏ cả mùa màng, vát dao mác đầu quân ra trận mạc, đó là nhờ giá trị động viên của áng văn cụ Đồ Chiểu. Nghĩa quân của Đảng cựu phát động binh lực xuống Bến Tre, đóng giữ cửa Đại và cửa Tiểu. Chẳng bao lâu, Phan Tôn nhận đượcvô số thư kêu cứu của dân cư Gò Công, vì quân Pháp hoành hành quá đổi sau ngày cụ Trương Công Định mất.

Xót thương dân chúng vô ngàn, nhưng Phan Tôn còn lưỡng lự, vì địa hình Gò Công trống trải, đường xá binh lính chưa rành. Nhưng bổng một hôm, có một chàng trai đến xin ra mắt đệ trình một kế hoạch tỉ mỉ tấn công đồn Hưng Đông. Đây là đồn nổi tiếng ác nhất trong vùng. Thanh niên ấy cam kết mình lào thông đường xá, có thể tiến dẫn cuộc công kích hoàn toàn thắng lợi. Khi hỏi ra mới biết thanh niên ấy là Trương Huệ, người con đầu lòng của Ông Trương Công Định.

Sau mấy ngày bàn luận kỹ lưỡng, Phan Tôn đồng ý kế “ Ngưu hỏa công “ của Trương Huệ đưa ra, đồng thời cắt người chiến hữu cùng 50 nghĩa quân tinh nhuệ len lõi vô Gò Công tiêu diệt đồn Hưng Đông.

Trương Huệ trở về đất củ được dân cư tiếp đón nồng nhiệt và che dấu kỹ cang, nghĩa quân cho ở rải rác từng nhà. Trương Huệ xin những người khá giã sẵn sàng giúp mình giết giặc. Đúng như lời hẹn, hơn 10 đôi trâu cổ được tập trung về vùng Rạch lá và giao lại cho Trương Huệ sử dụng. Chiến thuật Ngưu hỏa công là một lối đánh mau lẹ, dùng trâu dẫn lửa để thiêu đốt đồn trại, áp đảo tinh thần lính địch và nhân đó binh ta nằm sẵn mai phục chờ lính giặc chạy là tha hồ chém giết.

Vào đêm 30 tối trời, đàn trâu được lùa lên cánh đồng Hưng Đông, nghĩa quân cho buộc vào đuôi nó những con cúi nhúng dầu. Khi dắt trâu vào vòng  rào tre, được hiệu lệnh, tức thời lửa được bật lên châm vào các con cúi ở đuôi trâu cháy rực. Mọi người ra khỏi lũy tre đóng rào lại, trâu bị đốt đích, kinh hoàng rống lên, chạy tuông vào đồn trại, chém quật tứ tung, lửa loan cháy tứ phía. Lính tráng đang ngon giấc, giật mình tỉnh dậy chưa kịp cầm súng đã bị lớp trâu quật ngã, lớp bị trâu dẫm lên, đồn Hưng Đông rền vang tiếng la khóc. Tên lính nào chạy nhanh chân thoát được ra ngoài, liền bị nghĩa quân chận đường chém giết. Không đầy nửa tiếng, đồn Hưng Đông đã bị hạ xong.

Đây là một lối đánh bất ngờ và thần tốc vô cùng linh động. Trận nầy Trương Huệ cướp được 8 khẩu súng trường làm vốn cho cuộc chống Pháp anh dũng về sau.

Huỳnh Công Tấn và  bộ hạ Việt gian ở Định Tường nghe nói đồn Hưng Đông bị tấn công, cứ đề quyết với tướng Ariès rằng nghĩa quân Nguyễn Trung Trực lại về hoạt động. Tây tà khiếp vía lo âu, cấp báo lên De La Grandière, lính Sài gòn được tăng cường đưa xuống cho hết thảy các đồn để đề phòng.

Tình hình Nam Kỳ càng thêm bối rối, Phe Chasseloup Laubat, Bonard thắng thế với chính sách dùng võ lực để cưởng chiếm Nam kỳ, chúng luôn tìm mọi gay cấn từng lúc để cho nổ bùng chiến cuộc.

Đầu năm 1865, thêm một nhà tu hành là sư cụ Từ Tâm ở chùa Phước Hậu ( An Bình – Cao Lãnh ) đứng lên kêu gọi dân chúng kháng Pháp. Đặc biệt nhứt của phong trào nầy là mở các cuộc thuyết pháp trong khắp làng mạc, vạch cái ác của quân Pháp. Không bao lâu chùa Phước Hậu biến thành một trại tập trung kháng Pháp mạnh mẽ. Kẻ hiền từ nhứt cũng đã quyết kết tập dưới cờ của sư cụ Từ Tâm, mong tìm đường giải thoát nước non để giải thoát mình và cứu rổi chúng sanh.

Lúc bấy giờ bọn giặc cướp ở Mỹ Quí, sau khi chặn bắt được Thủ Khoa Huân lãnh thưởng, được tên Việt gian Huỳnh Công Tấn xin với Pháp cấp cho chúng một số vũ khí, và đề cử tên Lê Văn Ất chính thức đóng đồn ở Mỹ Trà, để thay Pháp cai trị dân cư, chúng được thế càng cướp bốc công khai, đưa dân chúng vào vòng cơ cực không tả xiết.

Trước sự dã man của bọn Lê Văn Ất, sư cụ Từ Tâm và dân chúng vào một đêm giả danh nghĩa quân ông Nguyễn đánh lấy đồn Mỹ Trà và giết tướng cướp Lê Văn Ất.

Do vậy, nên nơi nơi người ta tin rằng nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đã trở về Đông tam tỉnh, không còn lưỡng lự gì nữa mà ráo riết chuẩn bị phản công. Binh ông Nguyễn đã về!…một truyền mười, mười truyền đi trăm ngàn người khác nữa…Các đồn bót lẻ tẻ sợ hải, xin Pháp trở về các cứ điểm trung tâm. Tình trạng náo động đó làm cho De La Grandière.phải chú ý, lo âu nhiều. Pháp hoàng phải cử tướng Varances lập thành một phái bộ bí mật qua điều nghiên tình hình.

Bọn Chasseloup Laubat hay tin báo cho De La Grandière hay trước, nên De Varances vừa đến Vũng Tàu được tàu chiến của De La Grandière rước về Sài gòn tiếp đãi, nên khi về nước báo cáo cho Pháp hoàng rất lạc quan, để đồng ý với bọn chủ chiến mở cuộc tấn công miền Tây Nam kỳ.

 

ĐÃ QUYẾT ĐỊNH TẤN CÔNG MIỀN TÂY, DE LA GRANDIÈRE

PHÁI GENGRARD, BEHIE CHẠY TÀU TUẦN THÁM BỊ

NGUYỄN TRUNG TRỰC TẤN CÔNG BẤT NGỜ TẠI VÀM RĂNG

 

          Nghĩa quân Nguyễn Trung Trực hai năm về miền núi lập được nhiều căn cứ vững chãi, sau một thời gian giáo luyện và thu mộ được nhiều tân binh người Miên rồi, ông Nguyễn đã cắt nhiều cánh quân tinh nhuệ cho trở lại Đông tam tỉnh làm nồng cốt cho các cánh quân của Đảng cựu và giúp Trương Huệ tạo thành một đội quân biệt lập về đóng ở Tây Ninh.

Vì mãi theo lời yêu cầu của lãnh binh Phan Công Thân, nên Nguyễn Trung Trực không rời đất An Giang, nhưng trong lòng muốn trở về miền Đông tiếp tục các trận đánh Pháp…

Khi đặc phái viên của Pháp hoàng trở về, nhân cơ hội đó các tên Chasseloup Laubat, Rigault de Geneuilly và Marchaise trình kế hoạch áp dụng các biện pháp quân sự. Liền theo đó, người ta luôn thấy những chiếc tàu chiến vẩn vơ theo eo biển Xiêm La, hoặc từ Cần giờ chạy xuống cửa biển Hàm Luông rồi đến đuôi mũi Cà Mau.

Lãnh binh Phan Công Thân nhận định tình hình vô cùng khẩn cấp, luôn hội kiến với Nguyễn Trung Trực để tính kế luận mưu. Ông Nguyễn cho rằng chẳng riêng gì An Giang, Hà Tiên bị hâm dọa và Long Hồ cũng điêu đứng đến nơi rồi. Giặc đã theo đường biển để bất ngờ đổ bộ, hoặc theo đường sông Cửu Long cập vào bắn phá.

Kế hoạch phòng thủ thật khó khăn, vì miền Tây quá nhiều kênh rạch, chẳng biết giặc sẽ đi đường nào. Nhưng kinh nghiệm cuộc chiến trước mà tướng Doudart de Lagrée đến uy hiếp An Giang thì Hải quân từ Oudong theo sông Cửu Long để tràn xuống.

Giao lãnh binh Phan Công Thân cẩn thận đấp phòng tuyến dọc theo bờ sông, nhất là những nơi giặc có thể tràn lên được. Còn lãnh binh Trương Công Uyển trấn giữ đất Long Hồ, chú ý giặc thường phát binh từ Định Tường cần phối hợp với Đảng cựu của huyện Nguyện. Riêng phần mặt biển, cụ Nguyễn Trung Trực cam kết với các vị trấn thủ Long Hồ và An Giang và Hà Tiên rằng mình có thể lo đối phó mặt biển để các ông yên lòng lo bố trí giữ đất liền.

Ông Nguyễn cũng đến giáp mặt hai vị công tử họ Phan tại Bến Tre để bố trí giữ ba cửa sông là: cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Hàm Luông, còn mình thì định liệu giết giặc từ mũi Cà Mau lên đến eo biển Xiêm La.

Thế là ông Nguyễn phải xuống núi, sau khi giao trọng trách lại cho vị Quản cơ Bình và Thạch Chóc lo phần trấn giữ các kho lương cất dấu tại Bảy Núi, đồng thời tập binh sĩ để sẵn sàng bổ sung cho các lực lượng ở hai tỉnh An Giang và Hà Tiên.

Ông Nguyễn chú trọng vùng Vàm Răng là nơi mà giặc có thể cập tàu đổ bộ lên hai tỉnh An Giang và Hà Tiên, hoặc dùng tàu nhỏ chạy vào vùng Bảy Núi. Như vậy, lực lượng chính gồm toàn nghĩa binh hơn 500 chiến sĩ, nòng cốt là dân chài lưới Bình Định, Gò Công được đem trấn tại ranh giới Vam Răng, sống trà trộn với dân chài lưới tại chỗ, lấy phương tiện đóng  đáy làm kế sinh nhai. Ngoài việc chú trọng cẩn thận địa phận trấn giữ của mình, cụ Nguyễn biết được có hai chiếc tàu giặc là Mitraille và Fauconneau luôn luôn thả đi tuần thám ngoài khơi vịnh Xiêm La. Chẳng chóng thì chầy, thế nào lũ giặc cướp nước cũng mưu toan đổ bộ vào đất liền hay công kích bất ngờ hai thành Kiên Giang và Hà Tiên, nên ông Nguyễn cấp báo cho hai vị trấn thủ yếu điểm nầy để đề phòng nghiêm ngặt.

Quả vậy, khi thấy Vàm Răng tập trung đông đảo, tàu giặc lần hồi tiến vào khủng bố, tác động tinh thần, gây hoang mang địa phương, trước khi tiến đánh toàn bộ. Rồi một sáng, chiếc Fauconneau nhân lúc nước lớn, vô tận xóm đáy Vàm Răng làm thân với dân chúng. Giặc ngở ở đây chỉ có người làm ăn thôi, nên tha hồ tán dốc.

Được tin nầy, cụ Nguyễn mừng thầm, sẽ có dịp tái diễn chiến công Nhựt Tảo, nhưng chẳng hiểu sao, chiếc Mitraille cứ neo ngoài khơi, nên nghĩa quân chưa quyết định được trận đánh, theo kế hoạch định sẵn của ông Nguyễn là phải hạ một lúc hai tàu, bằng không cứ thả lỏng, chờ dịp khác.

Nghĩa quân quá ư hăng hái, nên khi chợt thấy tàu Fauconneau vừa toan kéo neo ra đi, không kịp nghĩ đến việc xin thỉnh kiến ông Nguyễn, một toán hơn 20 nghĩa binh tức tốc đem đoản kiếm giấu dưới thuyền chài, chở tôm cá theo tàu để hiến dâng cho “ Quan lớn” , Pháp quân cho rằng mình chẳng mấy lúc đã khắc phục được dân tâm, nên reo cười mừng rỡ, tiếp đón của cho. Nghĩa quân nhân đó nhảy lên tàu giặc, xua quân, vung kiếm chém giết thẳng tay.

Tên chỉ huy tàu là Behie hốt hoảng la lên một tiếng, rồi đâm đầu nhảy nhóc xuống nước, lính tráng chưa bị giết, cũng nhảy theo ầm ầm. Lính gát hầm máy cho rú còi cầu cứu. Tàu Mitraille đậu ngoài xa biết việc chẳng lành, xả súng bắn vãi vào bờ không ngớt. Nghĩa quân bỏ thuyền lội vào bờ vô sự.

Vì gặp lúc nước lớn, nên tàu mitraille lần lần tiến vào bờ để tiếp ứng, cứu được chiếc Fauconneau thoát nguy.

Thế là cuộc tuần thám của Gengard và Behie đưa đến một kết quả quan trọng phát giác được rằng dọc theo ven biển có quân Việt phòng thủ. Tuy nhiên, chúng đã trả giá rất đắc trong cuộc làm quen với dân chài lưới vì có hơn chục tên lính thủy vừa Pháp vừa Việt đã rụng đầu dưới gươm báu của nghĩa quân tại cửa Vàm Răng.

 

PHẦN NĂM

BA TỈNH MIỀN TÂY RƠI VÀO KHÓI LỬA

 

Tình thế ngày càng căng thẳng, Pháp quân đã quyết chiếm miền Tây, trung tuần tháng 2 năm 1867, sau khi tàu Monge chở trung tướng Monet de la Market ra Huế yêu cầu triều đình phải nhường luôn ba tỉnh miền Tây không được chấp thuận, đây là thủ đoạn “ Tiên nghi lễ, hậu hưng binh “ của Pháp.

Trong lúc đó, Pháp quân đã chuẩn bị binh lực, tàu bè dàn ra tất cả, và tướng De La Grandière xuống lịnh tấn công Long Hồ. Hạ tuần tháng 7, một đoàn chiến thuyền gồm có các pháo thuyền Mitraille, Boudais, Alom Fran, Espagnole, Glaive, Fauconneau, Halleparde, Jeanne D’arc và một đoàn tàu vận tải khác lên đường chinh phục.

Lính tráng được tuyển chọn, gồm đa số là người Việt, thủy bộ có trên 2.000 người được võ trang đầy đủ. Lần nầy, De La Grandière chắc thắng, nên mang theo cả bộ máy hành chính gồm có Tham biện, Thông ngôn, Thơ ký, …

Một bộ tham mưu chiến lược được thành lập tại Định Tường gồm những tay sai đầu sỏ dưới quyền của tên chó săn Huỳnh Công Tấn luôn kề cận để hiến kế. Tướng De La Grandière ngồi pháo hạm Ondine từ Sài gòn theo cửa biển Cần Giờ ra biển xuôi về cửa biển Hàm Luông tiến vào Định Tường không gặp sự kháng cự nào đáng kể. Đến nơi ba ngày để sắp xếp công việc xong, ngày thứ tư De La Grandière mới phát binh sang Long Hồ.

Trong lúc binh lực của ta ở Long Hồ quá yếu, được trang bị thô sơ không thể nào chống cự lại lâu dài. Chiến thuyền từ Định Tường sang Long Hồ nhờ cò sa mù tháng bảy, nên lúc tới mặt thành mà quân trấn thủ vẫn chưa hay. Quân Pháp cho đổ bộ từ Mỹ Thuận xuống, còn tàu chiến thì chong súng vào mặt thành.

Qua 7 giờ sáng, mặt trời lên hơn sào, bên ta mới giựt mình, tiếng súng vẫn chưa nổ… tướng De La Grandière phái cố đạo Legrand de la Liraye đưa vào thành một tối hậu thư hẹn trong 2 giờ phải giao thành, lời lẽ vô cùng hống hách “ tiếp nạp hay không tiếp nạp”. Tiếp nạp thì mau mở cửa thành đón rước quân đội Pháp và nhận điều kiện nói trên. Bằng chẳng tiếp nạp, kỳ hạn đúng 2 tiếng đồng hồ, Pháp tức thời hạ lịnh tấn công Long Hồ. Trong bức tối hậu thư ấy, Pháp cũng nói luôn hai tỉnh An Giang và Hà Tiên không khác gì Long Hồ.

Trước tình thế cấp bách, Lãnh binh tổng trấn Long Hồ là Trương Công Uyển cùng các võ quan một lòng xin quyết chiến với Pháp. Nhưng cụ Phan Thanh Giản cho rằng chống với Pháp như trứng chọi đá, và được quan Án Sát Võ Doãn Danh đồng ý, nên hai ông mới xuống thuyền trương cờ kinh lược triều đình chèo ra tàu giặc để giáp mặt với De La Grandière .

Trong lúc đó, quân Pháp đổ bộ đã bao vây bốn mặt thành Long Hồ, chờ tiếng đại bác lịnh trên tàu Ondine thì tràn vào áp đảo bên ta ngay.

Cùng lúc cụ Phan ra tàu Pháp, Tổng trấn Trương Công Uyển bất bình đã kéo quân bỏ thành sang chợ Dinh. Khi cụ Phan quay lại thuyền vào bờ nhìn lên đã thấy trên thành phấp phới  lá cờ tam tài. Vì khi quân Pháp đến thấy thành bỏ trống nên tràn vào thành.

Cụ Phan đau lòng, dâng sớ trả áo mão về triều, rồi tuyệt thực, cụ yếu dân, đến ngày thứ 7, tự tay hòa thuốc độc uống, rồi trút hơi thở cuối cùng. Hai ông Phan Tôn và Phan Liêm mang di hài cha về chôn tại Bảo Thạnh ( Bến Tre) nơi mà binh Cần Vương còn đóng giữ.

Nhưng sự đã rồi…đất Nam kỳ sáu tỉnh đã chịu điêu linh dưới gót giầy xâm lược Pháp.

Cũng đúng vào ngày 17 tháng 6, như ở Long Hồ, tàu Pháp vào thành An Giang.

Lãnh binh trấn thủ Hà Tiên là Nguyễn Định từ trước không bao giờ chấp nhận và tiếp xúc với nghĩa quân Nguyễn Trung Trực, nên việc mất thành Hà Tiên mà cụ Nguyễn vẫn không hay biết. Khi nhận lãnh trách nhiệm của triều đình về làm Thành Thủ Úy Hà Tiên, đến nơi, cụ Nguyễn mới hay giặc Pháp đã chiếm thành Hà Tiên vào lúc 12 giờ trưa, ngày 23/6/1867 rồi.

Riêng thành An Giang, Pháp dùng hai lực lượng từ Oudong xuống và từ Định Tường lên, dùng dòng sông Cửu Long để dễ di chuyển và áp đảo An Giang thành.

Ba thành đều mất một lượt, Nguyễn Trung Trực hết sức lo rầu, biết rằng chuyện đó phải đến. Nhưng dầu ai có gan sắt, da đồng đi nữa cũng không sao cầm lòng cho được, vì:

Trạm Bắc ngày chiều tin điệp vắng,

Thành Nam đêm quạnh tiếng quyên sầu.

Hoặc,

Bến Nghé của tiền tan bọt nước,

Đồng Nai tranh ngói nhuộm màu mây.

Tuy vậy, Nguyễn Trung Trực luôn luôn trấn tĩnh tinh thần nhóm tàn binh của trấn thủ thành An Giang. Và trong buổi tiển đưa hai lãnh binh Trương Công Uyển và Phan Khắc Thân lên đường về triều kiến, ông Nguyễn đã khẳng khái nói: “Đã là anh hùng, không cứ thiếu đất dụng võ, chỉ sợ mình không đủ tài năng làm việc lớn đó thôi”.

 

XÁP CHIẾN TỪ CÔ TÔ SANG NÚI TƯỢNG

 

Pháp quân chiếm xong An Giang thành vào cuối năm 1867, đổ quân tràn ra chiếm đóng khắp nơi có sông rạch, phao tin đồn rằng đã chiếm được Bắc kỳ, và triều đình Huế đã đầu hàng vô điều kiện. Dân ta thấy mất người Đại diện triều đình cũng nhôn nhao lên, chưa nhận thế nào là hư thực

Vùng Thất sơn được đồn đãi là có nhiều quân binh ông Nguyễn chiếm đóng, nên Pháp quân lúc nào cũng chú trọng gấp rút tấn công. Nguyễn Trung Trực đoán biết như vậy, nên ngoài việc chuẩn bị đối phó, còn chọn đường rút lui để bảo tồn lực lượng.

Quản Bách là phó tướng hỏi ông Nguyễn:

Thế cùng, lực lượng Bảy Núi phải chăng là chỗ quyết tử của ta?

Ông Nguyễn đồng ý lắm, luôn luôn lập lại cho các chiến hữu rằng: “ người anh hùng đừng sợ thiếu đất dụng võ và thiên hạ vô nan sự”.

Có người nghĩ rằng quân ông Nguyễn sẽ rút sang đất Cao Miên, còn ông thì quyết sống chết tại quê hương, không khi nào lìa xa đất tổ, lìa đấng mẫu thân, dầu cuộc ra đi ấy là để mưu toan đại sự. Bây giờ đất Hà Tiên đã lọt vào tay quân Pháp, và cũng là lúc nghĩa quân Nguyễn Trung Trực  vẻ lối vạch đường thông thương từ An Giang sang Hà Tiên.

Ông còn cho chuẩn bị rất nhiều thuyền bè vượt biển. Trong lúc đó, có nhiều toán nghiã quân thám thính Hòn Tre và đảo Phú Quốc. Sau lại, ông đích thân ra đưa mẹ già tịnh dưỡng ở đảo. Hai cánh quân cũng được gởi ra đó với một kế hoạch định sẵn.

Trở vào đất liền, ông Nguyễn gặp ngay cuộc tấn công dữ dội của lục quân Pháp lên núi Cô Tô, nghĩa quân người Miên, với một khí thế chiến đấu gan lì không thể tưởng. Luôn cả sáu ngày trời, quân Pháp mới vượt qua được núi Cô Tô, sau khi bỏ xác hơn trăm mạng trên các đèo cao dốc đá. Nhưng đó cũng chưa phải là có mặt ông Nguyễn chỉ huy mưu lược, nghĩa quân chỉ vì dũng cảm có sẵn mà hăng hái tự động diệt thù.

Cho đến khi quân Pháp tiến quân vào núi Tượng, thì chiến cuộc hải hùng mới xãy ra. Ông Nguyễn đích thân lui tới đốc quân các mât trận. Lục quân Pháp chẳng thể mang súng lớn, nên đạn nhỏ bắn vào đá chẳng làm gì được nghĩa quân ẩn trú và nghi trang kỹ càng trong hóc đá, chòm cây.

Ba lượt xung phong, ba lần đá tuông lăng xối xả, Pháp quân, đứa thì ngã quỵ, đứa chạy bò càng. Những tiếng reo hò ầm vang, cả giọng Miên lẫn Việt, chùa chiền trên núi cũng giống trống, khua chiêng. Cầm cự được 3 ngày, tướng Roubée và Paris de la Bollardière được lệnh De La Grandière rút lui về thành An Giang.

Sau trận nầy, Nguyễn Trung Trực cho nghĩa quân phân tán ra, lớp lên núi Trầu ở Hà Tiên, lớp ra Hòn Đất, nghĩa quân được lệnh tạm phân tán khắp nơi và tìm cách sống lẫn lộn trong dân chúng, tránh tai mắt bọn gian phi chó săn của thực dân Pháp.

 

MỘT LÒNG HIẾU THẢO VỚI MẸ

 

Sau khi nghe tin nghe tin con xuất chiến, thân mẫu cụ Nguyễn đau nặng, thình lình mê man bất tỉnh, làm cho nghĩa quân hốt hoảng, căng buồm chạy thẳng vào đất liền đón rước cụ Nguyễn về kề cận mẫu thân. Do đó, việc luyện quân mấy lúc sau bị bê trễ , vì người ta thấy ông Nguyễn rất bận tâm lo lắng cho mẹ già  bịnh tình ngày càng trầm trọng.

Hơn tháng trời ngã bệnh, mẫu thân của ông Nguyễn chẳng chút thuyên giảm, thuốc núi, thuốc nam lo chạy đủ điều. Dân cư Phú Quốc điềm chỉ tại Kiên Giang thành có ông lang người tàu chuyên trị bệnh lão, và đề nghị với ông Nguyễn nên đưa bà vào đó họa chăng còn cứu được mạng sống. Một lòng thương mến mẹ vô cùng, nên ông Nguyễn cấp tốc cho 3 người chiến hữu giả dạng theo ghe buôn phò tá mẫu thân ông vào bến Kiên Giang tìm danh y chuyên trị.

Đây cũng là cơ hội tốt cho nghĩa quân tường tận cứ điểm Kiên giang thành không sót một bót canh, một chòi gát , hay mọi đường đi nước bước nào cả. Trong vỏng non nữa tháng, mẫu thân ông Nguyễn lại lành bệnh, năng tới lui nói chuyện với các bà lão trong thành, nhận ra tiếng nói là người vùng ngoài, nên chòm xóm vẫn hay để ý…

Trong thời gian nầy, tại thành Rạch Giá có gia đình phú hộ họ Trương bị Pháp bức bách quá nhiều, nên hai chị em gia chủ tên gọi là Bà  Điều là chị, Bà Đỏ là em, đi tìm nghĩa quân chỉ nẻo dẫn đường về tấn công Kiên Giang thành, vì hai bà am hiểu từng đường xá, vị trí hai bà đều nằm lòng, lại có người thân tín  tại chỗ bị bắt buộc đi lính, sẵn lòng làm nội ứng. Hai bà ra đi, yên tâm thê nào cũng gặp được nghĩa quân ông Nguyễn để van xin về giải phóng xóm làng.

Hai bà cương quyết giáp mặt cho kỳ được, nghĩa quân chẳng biết sự việc quan trọng đến mức nào, nên vài người ra mặt cho biết ông Nguyễn không còn ở đất liền nữa. Nhưng hai bà cho rằng nghĩa quân cố tình giấu diếm ngay cả với những kẻ có lòng, nên hai Bà đã giận dỗi , tỏ thái độ khinh dễ, quày trở lại Kiên Giang thành, và cho rằng : nghĩa quân ông Nguyễn toàn là người không dái cả….Nghĩa là hèn nhát, chẳng xứng đáng trượng phu như hai Bà tưởng.

Vì lòng sùng bái nghĩa quân, nên ai nấy đều cho đó là bệnh thần kinh của hai Bà, nhưng tiếng đồn lang xa, làm cho khắp nơi thiên hạ kinh ngạc. Kể cả Pháp quân cứ hạch hỏi mãi bọn Việt gian, nhưng không tên nào đoán ra. Vì càng đồn đãi càng “ tam sao thất bổn”.

Khi ông Nguyễn trở về đất liền thăm binh sĩ, có nghe được chuyện nầy, lệnh cho nghĩa quân tất cả ra Hòn Tre và Phú Quốc. Có người địa phương vì tình lưu luyến với nghĩa quân và bản chất thật thà thốt hỏi ông Nguyễn:

Nghĩa quân bị chê oan rằng là nhát, sao không ở đây dương oai một trận để dân chúng hết hiểu lầm. Ông Nguyễn bình thản đáp:

Nghĩa quân chiến đấu không vì công danh, quyền tước, thì không chỉ vì một lẻ người đời dèm pha lại ra sức trổ tài. Ta chỉ sợ e tai tiếng quá nhiều, Pháp quân nghe được, một ngày nào đó tránh không khỏi sự bao vây bất ngờ của giặc. Bởi vì Pháp không tin được nghĩa quân hèn nhát, chớ chi chúng dễ tin như vậy là ta sung sướng biết dường nào?…

Cho tới một ngày, bà Điều và Bà Đỏ tới làm quen, rồi lần lần trong những câu chuyện qua lại làm sao đó mà hai Bà biết được mẫu thân của ông Nguyễn Trung Trực.

Công cuộc vận động thầm lén, nào gạo thó, bạc tiền tới tấp nập mang đến trước khi tiễn chân bà già bệnh về đảo. Nghĩa quân thấy vậy hải kinh, hấp tấp cho bà rời Kiên Giang thành mau chóng.

Tới căn cứ, nghĩa quân liền cấp báo sự tình cho vị tướng lãnh mình nghe. Ông Nguyễn Trung Trực vừa thấy mẹ đã lành bệnh thì mừng vui hớn hở, lại nghe mẹ già tiết lộ bí mật quân cơ thêm bối rối trong lòng. Ông thầm trách: “ Ta vì hiếu khiến quân bảo bọc mẹ già ta, liều chết vào miệng cọp. Nay ta há lại không vì đại cuộc mà phân trần lợi hại cho mẹ già nghe sao?”

Thế rồi, trước mặt ba quân, ông Nguyễn đưa mẫu thân đến để tường trình những lời lẽ bà đã vô tình nhìn nhận sự có mặt của Nguyễn Trung Trực tại đảo Phú Quốc trong lúc bà nằm trị bệnh ở Kiên Giang.

Nể nang tướng lãnh mình, tướng sĩ không ai nói năng điều gì, đồng đứng im  lìm nghe cụ Nguyễn vạch điều phải quấy. Bà già thật thà nói xong câu chuyện, không ngần ngại kết luận rằng: Với những kẽ có lòng ái mộ nghĩa quân, chẳng lẻ mình lại đan tâm làm lơ không nói ra những điều cảm thông tha thiết. Bà cho rằng nghĩa quân đã đánh giặc vì dân, vì nước lẻ đâu dân cư lại có thể phản bội lại mình sao?

Với sự nhận thức quá ư  chân thật của mẹ, ông Nguyễn ứa lệ trầm tĩnh: chẳng bao giờ dận hại nghĩa quân. Những sơ sót vừa qua sẽ có ảnh hưởng tai hại đến kế hoạch , dự định sau nầy. Đây chỉ là việc nhỏ mà ông Nguyễn phải làm vừa lòng tướng sĩ, nhưng rồi việc lớn phải tới sau đó 3 ngày.

 

PHẦN SÁU

TIẾN ĐÁNH KIÊN GIANG THÀNH

 

Kiên Giang thành đóng trên bờ biển cheo leo, trống trải hơn thành Hà Tiên nhiều. Nơi đây, Pháp quân quá tàn ác, ngày ngày dùng bạo lực đàn áp dân cư vô cùng thảm hại. Thành nầy, từ khi chiếm  đóng rất hờ hửng với việc canh gác, bởi chúng ỷ lại mặt biển đã có sẵn hai tàu chiến Amphititre và Jean D’arc luôn luôn tuần tiểu và neo ngoài khơi canh giữ mặt ngoài. Như vậy, nghĩa quân Nguyễn Trung Trực mà chúng nghe nói đóng tại Hòn Tre và Phú Quốc không nghĩa lý gì với chúng, không thể tấn công từ biển vào. Đất liền từ bờ sông Cái Bé đổ ra vịnh Thới Đông và Hồ Lương, chúng đều có xẻ đường lưu thông cho lính tráng ngày ngày tới lui canh giữ, không còn lo âu một sự hoạt động nào chống lại chúng.

Riêng ông Nguyễn tính toán nếu không ra tay trước với giặc, để giặc tấn công ra hai đảo, ắt phải đối phó nhọc nhằn, nên cần đánh gấp Kiên Giang thành  chừng nào hay chừng nấy…

Trong lúc đó, tại Tà Niên, sự gặp gỡ giữa Ông Lâm Quang Ky, Trịnh Văn Tư và Thành thủ úy Nguyễn Trung Trực diễn ra trong niềm vui và xúc động giữa những bậc anh hùng. Trực nói: Tôi trên đường dẫn anh em xuống đây, hiện đóng quân tạm tại sân chim coi tình hình ra sao rồi sẽ liệu. Nay nếu hai anh có lòng tham gia nghĩa quân thì tôi mừng lắm.

Sau đó, ông Ky đưa ông Trực đi quan sát địa thế Tà Niên. Thời ấy, vùng nầy gần như còn hoang vu, cây cối rậm rạp, ít dân cư ngụ. Hai ông đi hết mọi ngóc ngách trong các rạch, chỗ nào cũng có thể ém quân tấn công đồn Rạch Giá. Quan sát địa thế xong, hai người đã ghé thăm thân phụ của Ông Ky, nhưng không nói rõ danh phận của ông Trực. Câu chuyện thật nồng ấm, sau cùng thân phụ ông Ky giao ông Ky cho ông Trực : chú dìu dắt cho nó làm tròn bổn phận làm trai trong lúc “ quốc biến gia vong” cũng như làm rạng rỡ dòng họ Lâm nơi đất Kiên Giang nầy, thì dẫu có thác, bác cũng ngậm cười nơi chín suối. Ông Trực hết sức xúc động và đứng dậy nói: cháu hết sức khâm phục tấm lòng yêu nước của bác. Cháu xin hứa không phụ lòng tin của bác khi cho anh Ky tham gia hàng ngũ đánh lũ giặc Tây dương, quyết không để cho chúng làm mưa, làm gió ở đất Kiên Giang nầy.

Qua ông Ky và ông Tư, ông Nguyễn nắm bắt tình hình tại Rạch Giá, tình hình xây đồn, trại lính và bộ máy cai trị của Pháp, bọn chỉ điểm theo giặc cầu vinh, và những người có cảm tình với nghĩa quân. Riêng hai cô Điều và Đỏ hứa sẽ lôi kéo bọn lính mã tà làm nội ứng khi nghĩa quân tấn công đồn Rạch Giá. Ông Trực luôn dặn dò anh em cần phải chuẩn bị kỹ, thì khi đánh càng chắc thắng, hơn nữa mọi người cần phải tuyệt đối giữ bí mật, vì người xưa từng nói “ xuất kỳ bất ý, công kỳ vô bị” chính là nói điểm nầy “ bí mật và bất ngờ” là yếu tố quyết định thắng lợi của mọi trận đánh.

Trước khi trở về chỗ trú quân ở sân chim, ông Nguyễn dặn dò kỹ ông Ky: Việc đưa anh em về Tà Niên đóng quân luyện tập, anh phải có kế hoạch bảo đảm bí mật, tuyệt đối không để cho bất kỳ tên dọ thám nào của giặc lọt vô Tà Niên dò xét mà không bị trừng trị, cốt làm cho địch mù mắt, tai điếc không rõ hoạt động của ta.

Chiếc ghe tam bản chở ông Nguyễn về đến sân chim. Thấy chủ tướng về, anh em reo hò, hết sức mừng rở, trong số đó có Hai Nhượng và Tư Hội và một số nghĩa quân cũ từng sát cánh với ông Nguyễn đánh giặc ở Tân An, Thủ Thừa. Sau lúc hàn huyên giữa các nghĩa quân, ông Nguyễn bàn việc đưa quân từ sân chim về Tà Niên cùng với ông Ky để luyện tập quân trước khi đánh chiếm thành Kiên Giang.

Việc hội quân được tiến hành nhanh chóng, ông Nguyễn giao Hai Nhượng và ông Ky ngày đêm luyện quân, nhất là các thế đánh xáp lá cà…còn ông Nguyễn tiếp tục khảo sát thực địa và nắm tình hình thật chặt ở chợ Rạch Giá và thành Sơn Đá ( Kiên Giang thành ).

Trong việc nắm tình hình, ông Nguyễn nhận thấy, bên ngoài đối diện thành Sơn Đá có một dãy của lính mã tà đóng quân, do đó, nếu đánh thành mà không tách được bọn mã tà thì rất khó khăn. Vì thế, ông Nguyễn giao trọng trách cho Cô Điều, cô Đỏ  tìm cách lôi kéo bọn mã tà về phía nghĩa quân, và làm nội ứng cho mình khi tấn công đồn Sơn Đá.

 

*****

Dưới bến sông, ông Nguyễn tiển đưa mẹ : “ Má cứ yên tâm đến chỗ ở mới để tịnh dưỡng cho thật khỏe, con còn bận nhiều việc nên không thể đưa má đi được, chỗ má ở là người tin cậy của con, họ sẽ lo cho má thật chu đáo. Chừng nào xong việc, con sẽ đón má.” Chiếc ghe do hai nghĩa quân thân tín của ông Nguyễn cải trang thành hai ngư dân  từ từ tách bến. Ông Nguyễn đứng lặng yên nhìn theo, không ngờ đây là lần cuối ông Nguyễn gặp người mẹ thân yêu của mình.

Chiều hôm ấy, ông Nguyễn cùng với ông thầy thuốc Thuyên mặc áo dài khăn đóng đi khảo sát tình hình , xem xét địa thế của thành lính Sơn Đá, được thầy Thuyên cho biết đồn giặc xây đến sáu cầu thang lên xuống, tầng trên là nơi quân lính ngủ và chứa vũ khí…ông Nguyễn nghe qua chợt lóe lên ý tưởng đánh đồn táo bạo sau nầy..Hai người tiếp tục đi về phía biển, đôi mắt ông Nguyễn chăm chú quan sát cảnh vật chung quanh, chợt thấy phía ngoài có con rạch nhỏ ăn sâu vào phía trong thành Sơn Đá, ông thấy hai bên con rạch cây lá mọc um tùm . Trong đầu ông Nguyễn  đã hình thành con đường hành quân , làm sao tiếp cận nhanh tránh bị phát hiện, nhất là phải lợi dụng địa thế để ém quân trước khi tấn công đồn…

Đêm hôm đó, khi trở về Tà Niên, ông Nguyễn vẫn còn băn khoăn vì chưa thể tiếp cận đồn Sơn Đá, và địa hình cụ thể của con rạch Lăng Ông. Ông cùng với một nghĩa quân ngay đêm đi trinh sát lần nữa. Chiếc tam bản chèo cặp sát ven biển Rạch Giá đến rạch Lăng Ông, đi sâu vào trong rạch. Trực bảo ghe ngừng lại rồi nhanh chóng nhảy lên bờ, biến vào bóng đêm. Ông Nguyễn đã vào sát tường thành, rờ những tảng đá xanh được xây dựng kiên cố, cao khỏi đầu người, ông tiếp tục quan sát sự canh gát của lính…Khi nắm được sát thực tế, ông quyết định trở về ghe. Ông bảo với nghĩa quân đi theo mình, không vào hang cọp sao bắt được cọp chớ, mình từ xa đến, không nắm vững đường đi nước bước thì làm sao đánh được giặc, nhất là cảnh vật ban đêm khác so với ban ngày. Chiếc tam bản lặng lẽ xuôi về Tà Niên, ông Nguyễn bảo, bây giờ mới thiệt yên tâm về ngủ yên…

Sáng hôm sau, ông Nguyễn triệu tập các chỉ huy nghĩa quân để báo cáo tình hình chuyến đi nắm tình hình địch. Ông Nguyễn nói: ‘ tôi vừa đi Rạch Giá quan sát tình hình giặc, tôi nghĩ chúng ta có thể đánh được, rồi ông vẽ trên mặt đất. Cái đồn giặc được xây bằng đá khá cao, nóc bằng, có cột cờ, ở xa có thể nhìn thấy, nằm giữa khu đất trống, tòa thành có sáu cầu thang lên xuống, bên trên để vũ khí và bọn lính ở, bên dưới là nơi làm việc của tên Chánh Phèn, là trung úy hải quân Phú lang sa chỉ huy bọn lính kiêm chức Chánh Tham biện tức Tỉnh trưởng Rạch Giá, nó có dinh nhỏ gần đồn, nhưng thường ở trong đồn  cho tiện việc bảo vệ, trang bị vũ khí của chúng toàn là súng trường , không có súng lớn. Đối diện với đồn chánh là dinh trại của lính mã tà, chúng bố trí theo thế liên hoàn để có thể hổ trợ lẫn nhau khi bị tấn công. Đây là mối lo, nếu không nắm được số lính mã tà nầy, khi tấn công vào đồn chánh, sẽ lâm vào thế lưỡng đầu thọ địch. Còn bọn lính tiếp viện thì ở xa tận Vĩnh Long, Long Xuyên, phải một thời gian sau mới có thể ứng cứu kịp”. Xong, ông Nguyễn nói tiếp: “ tôi rất tin tưởng anh em, nhưng đây là việc khó, cần phải tính kỹ, kẻo sai một ly đi một dặm, hơn nữa trong chiến đấu không cho phép sai sót, nhất là lần nầy đánh vào đồn lũy kiên cố của địch, trong khi anh em mình chưa từng đánh kiểu nầy bao giờ.”…

******

Nơi căn nhà nhỏ của một bộ hạ nghiã quân ông Ky tại Tà Niên, được dùng làm điểm hẹn, cô Điều và cô Đỏ báo cáo với ông Nguyễn và các chỉ huy của nghĩa quân về tình hình của trại lính mã tà. Hai cô cho biết đã động viên được tên quản Cầu, cai Tèo, xã Lý và một số lớn lính mả tà sẵn sàng theo nghĩa quân. Chỉ có tên cai tổng Thạch Phan, người Miên, hắn ra mặt theo giặc, hoạt động rất hăng hái, làm bất cứ việc gì mà bọn giặc sai làm, kể cả tội ác, đó là tên nguy hiểm nhất. Còn đối với dân chúng tại Rạch Giá thì đều ủng hộ nghĩa quân, họ mong nghĩa quân sẽ sớm đánh bọn Tây dương nầy lắm. Ông Nguyễn  vui vẻ nói: trong ba điều kiện, thì nhân hòa có tính quyết định, bởi lòng dân là ý trời….

******

Ở một bãi tập võ cuả nghiã quân sau ngôi miếu cổ trong rạch Tà Niên, nghĩa quân đang tập luyện võ nghệ. Từng đội dưới sự chỉ huy của đội trưởng đang say sưa tập luyện với mã tấu, gươm, dáo và trường côn …trông rất khí thế theo hiệu lệnh, rồi chuyển qua tập song đấu, từng cặp, họ giao đấu với nhau, mồ hôi nhuễ nhại trên những tấm lưng trần dưới ánh nắng mặt trời …

Bổng một nghĩa quân chạy vào báo cho chủ tướng có cô Điều vào cấp báo. Ông Nguyễn và các chỉ huy  đi vào trong lán, cô Điều mắt nước lưng tròng vội vàng kể cho ông Nguyễn và mọi người cùng biết tin. Cô nói: cô Đỏ, quản Cầu, cai Tèo và cả anh xã Lý đều bị lính thành Sơn Đá bắt vào chạng vạng tối hôm qua, nghe nói bọn chúng giam ở trong thành Sơn Đá, cũng chưa biết sống chết ra sao.

Ông Nguyễn trầm ngâm hồi lâu rồi nói : Tôi tin họ sẽ giữ được khí tiết, không khai báo gì với địch. Nhưng rõ ràng tình hình nầy không cho phép chúng ta chần chừ, phải tấn công tiêu diệt địch ngay, để cứu anh em đang nằm trong tay chúng. Ông nhìn mọi người xem phản ứng ra sao trước quyết định của mình. Ông Lâm Quang Ky lên tiếng: tôi nhất trí với ý kiến của chủ tướng, địch bắt người của ta, dứt khoát phải có chỉ điểm hay nội gián, chậm trễ tấn công lúc nầy là không có lợi. Phải giành thế chủ động, tiên hạ thủ vi cường, trong lúc địch chưa biết ta nhiều, chắc chắn là chúng có sơ hở trong phòng thủ, ta đánh bất ngờ chúng sẽ trở tay không kịp…. Anh em chỉ huy đề nghị chủ tướng giao nhiệm vụ cho từng đơn vị để còn kịp về chuẩn bị…

Đúng lúc đó, nghĩa quân chạy vào báo : anh em gát vừa bắt được tên Miên, nghi là dọ thám của giặc, xin các anh định liệu. Nó kêu oan, chỉ là đi nom cá, nhưng anh em xét trong mình nó có dao găm. Ông Ky nói: đích bắt đầu chú ý vùng Tà Niên nầy, xưa nay đâu có ai vô kiếm cá bao giờ.  Ông Nguyễn bảo dẫn nó vào, nó khai tên là Thạch Nút, đi nom cá kiếm ăn. Nhưng cô Điều đã chú ý ngờ ngợ nó là tên cai tổng Thạch Phan, nhưng hắn cải trang quần áo rách rưới nên chưa dám khẳng định, khi hắn khai tên, cô đã nhận ra tên tay sai nguy hiểm nầy. Cô nạt lớn: Thạch Phan, hắn giật nẩy mình, thất thần nhìn người nhận ra hắn. Trước đôi mắt sáng quắc nghiêm nghị nhìn hắn, tên cai tổng run sợ nhìn nhận và khai sự thật. Ông Nguyễn hỏi tiếp: mầy có biết tên Chánh Phèn mới bắt một số người giam ở đâu không?  Dạ…bẩm ông lớn…nghe nói họ bị giam trong đồn chỗ ông Chánh Phèn làm việc..

Ông Nguyễn giao việc xử lý tên cai tổng cho ông Ky . Ông Ky bảo: tên nầy không thể tha được, nó rất nguy hiểm, hơn nữa nó đã biết chúng ta rồi. Ông quay sang bảo hai nghĩa quân áp giải tên cai tổng ra bến nước. Tiếng kêu của tên Miên gian nhỏ dần rồi mất hút trong tiếng lá dừa nước lào xào…

Ông Nguyễn nhìn mọi người, bây giờ chúng ta tiếp tục bàn kế hoạch ban nãy, kẻo không kịp thời gian…

 

******

Tại nhà ông Lâm Quang Ky ở Tà Niên. Cuộc nói chuyện giữa ông Ky và cha ruột của ông đã đến hồi kết. Người cha ông Ky nói: tình hình như con nói, quyết định của ông Nguyễn là đúng rồi. Ông Nguyễn là người “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng”, mà ngay lần đầu gặp, tía đã nhận thấy con người ổng là như vậy rồi. Tía rất mừng là con gặp được người anh hùng trong thời ly loạn, nước mất nhà tan, cùng nhau giương cao cờ đại nghĩa chống  quân cướp nước, đó là vinh dự của người trai thời loạn, quyết giữ yên bờ cõi mà ông cha ta đã tốn biết bao mồ hôi xương máu mới gầy dựng nên…Ông Ky tạm rời xa người cha già, bước xuống xuồng do nghĩa quân bơi đi trở về căn cứ. Người cha già đứng nhìn theo con trai cho đến khi xuồng khuất sau cụm dừa nước xanh rì…

 

*****

 

…Đêm xuống, ngày 16/6/1868, tiếng sóng vỗ rì rào vào bờ biển Rạch Giá. Từ trong rạch Tà Niên, nhiều ghe tam bản, xuồng chở nghĩa quân lặng lẽ chèo ra sát mé biển đến cửa rạch Lăng Ông. Trên mỗi chiếc xuồng đi đầu là ông Nguyễn, ông Ky và các chỉ huy khác, tất cả đều hết sức căng thẳng nhìn về phía trước…Trời bổng đỗ cơn mưa, gió thổi mỗi lúc một mạnh hơn, bất chấp mưa gió, nghĩa quân lặng lẽ đổ bộ vào bờ rạch theo sau các chỉ huy, trang bị của họ toàn vũ khí thô sơ như mã tấu, gươm, dáo, mác, kiếm, côn…Ông Nguyễn dẫn đầu đoàn quân  len lách qua các bụi cây, khóm lá mọc hoang rậm rạp, tay cầm kiếm tuốt trần hướng thẳng về đồn Sơn Đá…

Thành Sơn Đá như trái núi đen xì giữa bãi đất trống gần rạch Lăng Ông vẫn im lìm trong tiếng mưa rả rích. Bên trong thành, bọn lính Pháp, ma ní, mã tà, Việt gian đang say giấc trên cái lán dài tầng trên, giá súng chúng đặt trong góc. Phía dưới thành, tên Chánh Phèn ngủ ở cánh trái, gần đó là tên thiếu úy và vài sĩ quan Pháp ngủ gần đó. Tất cả đều ngủ say như chết vì về khuya mát mẻ lại có cơn mưa rả rích ru giấc ngủ.

Phía trước cổng thành hai tên lính Pháp mặc áo mưa sùm sụp đứng gát,vừa làm nhiệm vụ tuần tra như thường lệ. Từ một bụi cây gần đó, ông Nguyễn nhỏm người lên quan sát, nhưng trời tối đen như mực, mưa lại kéo dài ngày càng nặng hạt, nên vẫn chưa thấy gì. Trong các lùm cây ven rạch, các nghĩa quân lặng lẽ bò theo các chỉ huy tiến vào bãi đất trống thành Sơn Đá, hình thành thế bao vây tấn công, tiếng động của hàng quân bị tiếng mưa át đi. Bổng tiếng gà gáy canh ba, trời sắp sáng rồi, mưa mỗi lúc càng nặng hạt hơn. Đúng lúc ấy, hai tên lính gát bật quẹt mồi thuốc hút, ngọn lửa lóe lên trong đêm tối dày đặc, nhưng cũng đủ cho ông Nguyễn nhìn rõ vị trí của hai tên lính gát, chỉ cách chỗ của ông Nguyễn hơn chục thước. Nhanh như chớp, ông Nguyễn phóng tới lia luôn lưỡi kiếm vào cổ tên lính đứng quay lưng, hắn đỗ xuống như cây chuối bị phạt gốc, không kêu được một tiếng. Quá bất ngờ, và hoảng hốt, tên lính thứ hai chỉ kịp kêu lên tiếng Ố là la, rồi cũng lãnh ngay lưỡi kiếm sắc bén của cụ Nguyễn vào bụng, kèm theo cú đạp mạnh khiến hắn ngã vật ra. Tên Chánh Phèn vừa thức giấc, nghe tiếng kêu lạ, hắn bước ra cổng chính của đồn hỏi: cái gì? Đúng lúc ấy, lưỡi kiếm của ông Nguyễn đã thọc vào yết hầu tên giặc đầu sỏ tỉnh Rạch Giá, hắn không kịp kêu lên một tiếng đã đỗ gục xuống, kèm theo giấc mộng xâm lược của hắn.

Tiếng hô sắt gọn “ Sát “ như một hiệu lệnh tấn công của ông Nguyễn, tất cả nghĩa quân đồng loạt nhỏm dậy, vừa hô “sát” vang rền, vừa tràn vào cửa thành, theo chân chủ tướng như lốc xoáy. Bọn lính ngủ tầng trên giật mình tỉnh dậy trong cơn hoảng loạn, có đứa kịp lấy súng, đứa không, nhưng nghĩa quân đã áp sát, một trận chiến xáp lá cà diễn ra…Vài tên chạy thoát xuống cầu thang liền bị toán nghiã quân chiếm xong tầng dưới tràn lên đánh tơi tả. Tiếng súng nổ rời rạc, tiếng rên la hòa lẫn tiếng hò hét của nghĩa quân thành một thứ âm thanh hổn độn vang rền. Một số tên giặc ở tầng trên hoảng quá nhảy liều qua cửa sổ lao ra ngoài đón nhận cái chết không kịp kêu la.

Ông Nguyễn và một số nghĩa quân chạy về phía buồng giam, thấy cửa buồng bị khóa bằng sợi dây xích, một ánh lửa xanh lè nháng lên qua đường kiếm của ông Nguyễn, sợi lòi tói bị chặt đứt lìa rơi xuống nền gạch, ông Nguyễn đạp mạnh, cánh cửa buồng giam bung ra, cô Đỏ, quản Cầu, cai Tèo, xã Lý mừng rỡ : quân ta chiếm được thành rồi! ông Nguyễn vui vẻ nói lớn : thằng Chánh Phèn đã đền tội, hai anh chạy về kêu gọi lính mã tà đi, hai người dạ vang rồi chạy nhanh ra ngoài.

Quản Cầu chạy trước, cai Tèo chạy sau đến trước hàng lính mã tà, quản Cầu nói giọng phấn khởi: ông Nguyễn đã hạ thành Sơn Đá rồi anh em ơi. Đám lính mã tà reo hò ầm ỉ, quản Cầu nói tiếp: anh em nào tham gia nghĩa quân chống lũ Tây dương thì ở lại theo tôi, còn ai không theo thì về nhà, tôi không ép buộc, rồi quay sang đơn vị đã tập họp ra lệnh: anh em theo tôi.

 

*****

Tại chợ Rạch Giá, nghe tiếng súng nổ phía thành Sơn Đá, dân chúng giật mình , ngơ ngác không biết chuyện gì đã xãy ra bên thành Sơn Đá, bổng nghe tiếng la lớn của một số lính mã tà vừa chạy, vùa la : bà con ơi, thành Sơn Đá đã bị nghĩa quân ông Nguyễn đánh rồi, chiếm được rồi, sướng quá bà con ơi! Cả khu chợ như bừng tỉnh, nét mặt mọi người hớn hở, từ già tới trẻ đều phấn khởi, vì thành Sơn Đá như cái gai chọc vào mắt họ.

Trong thành Sơn Đá, cuộc chiến đã kết thúc, anh em nghĩa quân trói thúc ké năm tên giặc Pháp dẫn tới trước ông Nguyễn, xin chủ tướng tính sao bọn nầy. Ông Nguyễn ra lệnh: giam bọn chúng lại, không nên giết tù binh. Ông Nguyễn giải thích thêm cho nghĩa binh hiểu: Nó chịu bị bắt thì không nên giết, để dân chúng xử nó sau thì tốt hơn.

Trời  rạng sáng, trên nóc thành Sơn Đá, lá cờ tam tài bị hạ xuống, lá cờ Đại Bái của nghĩa quân đẫm máu của người nghĩa quân giữ nó được kéo lên trong tiếng reo hò của nghĩa quân. Dân chúng phố chợ Rạch Giá thấy lá cờ Đại Bái của nghĩa quân tung bay trước gió, đã reo hò ầm ỉ, báo hiệu nghĩa quân của ông Nguyễn đã chiến thắng oanh liệt, giải phóng Rạch Giá khỏi tay giặc Pháp chiếm đóng.

Chiến thắng thành Kiên Giang, nghĩa quân đã tiêu diệt gần 100 tên giặc trong đó có tên Chánh Phèn và 5 võ quan Pháp cùng bọn ma ní, Việt gian…nghĩa quân thu gần  trăm khẩu súng và đạn dược các loại. Chiến thắng nầy, đánh dấu một chiến công oanh liệt của người anh hùng Nguyễn Trung Trực trên đất Kiên Giang lịch sử, được ghi vào sử sách như một ngày bi thảm nhất của đội quân viễn chinh Pháp khi xâm lược Nam kỳ nửa sau thế kỷ XIX.

 

PHẦN BẢY

NHỮNG CUỘC CHIẾN SAU CÙNG CỦA NGHĨA QUÂN

NGUYỄN TRUNG TRỰC

 

Trong dinh Soái phủ Nam kỳ của quân đội viễn chinh Pháp ở Sài gòn, Đô đốc Ohier nét mặt giận dữ  ném bức điện cho viên Đại tá tham mưu trưởng: ông đọc đi, đúng là một lũ ăn hại. Đây là bức điện của Thiếu tá Ansart chỉ huy quân Pháp ở Vĩnh Long báo tin: “ Đồn Kiên Giang đã bị tiêu diệt đêm 16/6/1868. Quân khởi nghĩa do Nguyễn Trung Trực chỉ huy đã chiếm thị xã Rạch Giá, làm chủ tình hình ở đó. Đề nghị quân cứu viện. Thật là kinh khủng.” Viên Đại tá mặt tái nhợt, nói: “ Tôi không thể tưởng tượng nổi, một đồn được xây dựng kiên cố đến vậy, có cả một lực lượng hùng hậu trú đóng, lại có thể bị tiêu diệt trong một một trận đánh, thật là một thảm họa”. Đô đốc Ohier nhìn viên Đại tá nói giọng gay gắt: “ Ông có nhớ bảy năm trước, chiếc pháo hạm Espérance bị đốt cháy giữa trưa ở vàm Nhựt Tảo và đồn mã tà ở trên bờ cũng bị tiêu diệt, do ai chỉ huy đó không? Và bây giờ chính tên Trực đó lại chỉ huy đánh đồn Kiên Giang – Rạch Giá. Đó là một tướng giặc hết sức nguy hiểm, lâu nay ta không theo dõi hoạt động của hắn, ta đã bỏ sót nên chúng ta phải trả giá đắc. Đây là một thảm họa của quân viễn chinh Pháp mà chúng ta có thể tránh được. Bây giờ bằng mọi giá, chúng ta phải nhanh chóng chiếm lại Rạch Giá”.

Đô đốc Ohier ra lệnh cho viên Đại tá tham mưu thảo lệnh điều quân, giao cho thiếu tá Ansart đang ở Vĩnh Long chỉ huy lực lượng quân ở Vĩnh Long và An Giang theo đường thủy kênh đào từ An Giang tiến qua Rạch Giá, đồng thời điều quân từ Hà Tiên theo đường bộ tiến xuống Rạch Giá, điều hai tàu chiến Amphititre và Jean D’arc và một số tàu khác chở quân đổ bộ mặt biển. Ohier nói tiếp : “ mục tiêu chính của ta lần nầy, ngoài việc chiếm lại Rạch Giá, việc chính là phải tiêu diệt hoặc bắt sống Nguyễn Trung Trực, nếu còn hắn thì công cuộc bình định xứ Nam kỳ sẽ không được yên với hắn. Nhưng để diệt được Nguyễn Trung Trực phải sử dụng đến lực lượng bản xứ đã qui thuận như Lãnh binh Tấn, Tổng đốc Phương, Trần Bá Lộc…vỉ chỉ người Việt mới hiểu được người Việt, mới hy vọng diệt được hắn.”

 

*****

Ông Nguyễn nhìn anh em chỉ huy nghĩa quân nói: Bọn giặc Tây dương sẽ không chịu thất bại để chúng ta làm chủ Rạch Giá đâu, cái khó của nghĩa quân là lực lượng còn mỏng, vũ khí lại thô sơ, còn vũ khí chiếm được của giặc chỉ đánh một trận là hết đạn, coi như củi mục..hơn nữa, Rạch Giá là sông rạch, và biển bao quanh, đó lại là ưu thế của quân Tây dương thuận lợi trong việc dùng hải quân tấn công ta. Để chặn con đường từ Long Xuyên vào Rạch Giá, tôi và quân của anh Tư Hội sẽ cùng dân chúng vùng đó đắp đập ở Lục Dục và Tà Keo để chặn đánh chúng ở hai trận địa nầy. Anh Hai Nhượng lo việc chặn địch từ Hà Tiên theo đường bộ kéo xuống. Anh Ky, quản Cầu, và các anh còn lại phòng thủ Rạch Giá đề phòng địch đổ bộ đường biển.”

Giao trách nhiệm xong, ông Nguyễn yêu cầu các chỉ huy về chuẩn bị cho từng mặt trận . Riêng ông Nguyễn dặn dò thêm ông Ky : “ Tôi tin anh, hết sức tin tưởng anh trong trận chiến khốc liệt sắp tới. Toàn bộ công việc phòng thủ Rạch Giá tôi giao cho anh, điều cần thiết anh phải quan tâm trước là phải bảo vệ dân chúng an toàn, hạn chế thiệt hại tính mạng của dân đến mức thấp nhất. Vì khi đổ bộ vào chiếm Rạch Giá, chúng sẽ trả thù sự thất thủ và thiệt hại thành Sơn Đá, mà dân chúng là người phải chịu sự trả thù hèn hạ đó. Anh nên nhớ, còn dân chúng là chúng ta còn, mất dân là chúng ta mất hết.” Thôi thời gian gấp lắm rồi, tôi phải đi với anh em, anh cho tôi gởi lời thăm Bác và gia đình. Không ngờ đây là lần chia tay cuối cùng của hai người anh hùng làm nên chiến công vẻ vang trên mãnh đất Kiên Giang.

 

*****

Ở Mặt trận Lục Dục và Tà Keo

Nghĩa quân và nhân dân có hàng trăm người cùng nhau đốn cây, đào đất chở trên các ghe, xuồng dưới sự chỉ huy của Tư Hội tại Lục Dục, không khí thật sôi nổi, mọi người khiêng cây cấm xuống dòng sông, đóng cọc, người thả chà, đổ đất..không kể giờ giấc ngày lẫn đêm, quyết tâm hoàn thành việc  đấp đập ngăn sông để cản tàu giặc. Các chị phụ nữ thì nấu cơm, cùng bánh trái đem ra đập cho mọi người ăn, không khí thật là vui, tiếng cười, nói đùa giởn với nhau vang cả khúc sông rộng. Trên bờ, các nghĩa quân đấp các ụ súng thần công và các chiến hào sẵn sàng cho việc chiến đấu.

Phía dưới ở Tà Keo, không khí dân quân cũng sôi nổi trong việc đấp đập ngăn sông để chặn tàu giặc, bất kể ngày đêm dưới sự chỉ huy của ông Nguyễn.

Dòng sông ở Lục Dục và Tà Keo cứ hẹp dần ….và hoàn thành như kế hoạch. Các nghĩa quân đã sẵn sàng chiến đấu ngăn đường tiến quân của lực lượng cứu viên….

Một đoàn tàu chiến của Pháp từ Long Xuyên tiến vào kênh về hướng Rạch Giá, đứng trước mũi chiếc tàu đi đầu là thiếu tá Ansart, hai bên là hai tên Việt gian nổi tiếng gian ác là Trần Bá Lộc và Đỗ Hữu Phương. Thiếu tá Ansart nói: “ Dù sao cũng phải công nhận Nguyễn Trung Trực là một tướng giặc hết sức nguy hiễm. Nghe nói ông ta xuất thân từ nghề chài lưới , không học qua một trường quân sự chính qui nào, nhưng cách đánh của ông ta rõ ràng là cách đánh của một nhà chỉ huy quân sự có kinh nghiệm trận mạc, giành thắng lợi trọn vẹn với mức thiệt hại lực lượng ít nhất, như trận đốt tàu Espérance  bảy năm trước, và nay là trận đánh đồn Sơn Đá ở Kiên Giang – Rạch Giá chỉ một đêm  đã tiêu diệt hoàn toàn phòng thủ, thu toàn bộ vũ khí.” Ansart nói tiếp : “ tôi được Đô Đốc Ohier dặn dò là cố bắt sống được tướng Trực, chiêu dụ ông ta về cộng tác với Pháp quốc, đó là biện pháp tốt nhất là biến kẽ thù thành người bạn tốt của mình. Còn không được thì phải tiêu diệt bằng được ông ta, thì cuộc bình định Nam kỳ mới không còn ai ngăn trở .

Bổng thiếu tá Ansart buông ống nhòm xuống và ra lệnh chuẩn bị chiến đấu. Tên thượng sĩ đứng cạnh tuân lệnh vung lá cờ  lệnh ra hiệu cho các ca nô chở quân theo sau tản ra cặp sát hai bên bờ kênh tiến dọc về hướng Lục Dục…

Một nghĩa quân ở chòi canh chạy báo động: có tàu giặc xuất hiện. Lực lượng nghĩa quân được lệnh vào các chiến lũy mai phục. Ông Nguyễn dặn Tư Hội khi nào tàu giặc tới gần mới bắn súng thần công. Đồng thời, dặn dò nghĩa quân đề phòng bọn giặc tiến theo đường bộ dọc hai bờ kênh…

Ầm! ầm! ầm ! tiếng đại bác trên tàu chiến của giặc bắt đầu nhả đạn về phía cản đấp ngăn sông, những cột khói trắng dựng lên, những cọc và bùn đất bay rào rào lên hai bờ kênh. Cuộc chiến ở đập cản Lục Dục đã mở màng, nghĩa quân đã chiến đấu anh dũng, ngăn cản từng đợt tiến quân của địch hai bên bờ kênh. Tiếng súng của địch tuôn xối xả về tuyến phòng ngự của ta, lực lượng nghĩa quân với vũ khí thô sơ không thể chống cự, được lệnh chủ tướng liền rút về Tà Keo, phối hợp lực lượng tại đây để ngăn chặn đà tiến quân của địch .

 

*****

Tại mặt trận Rạch Giá.

Trên vùng biển Rạch Giá, ngoài khơi, một đoàn tàu chiến xuất hiện do hai tàu chiến Amphititre và Jean D’arc dẫn đầu, những khẩu đại bác trên các tàu chiến bắt đầu nhả đạn vào trận địa, vào khu phố chợ Rạch Giá, những cột khói bao trùm, một số nhà bốc cháy, phút chốc trở thành biển lửa. Cư dân Rạch Giá xuống các ghe, xuồng tam bản, xuồng ba lá bơi dọc theo kênh ông  Hiển, vào rạch Tà Niên để tránh giặc….

Sau trận chiến nã đại bác, tàu Pháp thả các xuồng đổ bộ chở đầy lính Pháp, ma ní , mã tà  dùng dầm bơi vào bãi biển Rạch Giá. Ông Ky, quản Cầu và các chỉ huy nghĩa quân chạy ra chiến lũy dựng ngoài bờ biển, chuẩn bị đánh quân đổ bộ. Tiếng đại bác của địch từ tàu bắn vào chiến lũy của nghĩa quân hổ trợ cho lực lượng đổ bộ của chúng. Bọn lính dàn hàng ngang vừa lội trên bãi lầy, vừa nổ súng vào trận địa nghĩa quân. Bên trong chiến lũy, nghĩa quân đợi giặc gần tới liền nổ súng hạ ngay những tên lính đi đầu ngã vật xuống bãi biển, những tên sau bị chỉ huy hối thúc, tiếp tục chạy tràn tới, vừa bắn xối xả, vừa tiến vào. Nghĩa quân bình tỉnh hạ từng tên xong vào chiến lũy, đến khi hết đạn. Ông Ky ra lệnh: tất cả anh em chuẩn bị đánh xáp lá cà . Trận chiến xáp lá cà không cân sức diễn ra nhanh chóng, nghĩa quân vội rút vào khu chợ. Quân Pháp do tên thiếu úy chỉ huy rượt đuổi, khi vào đến khu chợ, một trận đánh xáp lá cà lại diễn ra, tên thiếu úy dẫn đầu bị chém chết ngay khi vào khu chợ. Nhưng do lực lượng nghĩa quân còn ít nên trận đánh diễn ra không cân sức, hầu hết đều hy sinh hoặc bị thương, và tất cả đều bị sát hại.

Một cánh quân khác của Pháp đổ bộ vào rạch Lăng Ông, tiến về thành Sơn Đá, do tên Trung úy dẫn đầu, chúng vừa chạy vừa hô xung phong. Bên trong thành, nghĩa quân được lịnh nằm im, đợi địch chạy đến gần mới nổ súng. Tên Trung úy chạy đầu dẫn quân tiến thẳng vào thành Sơn Đá, vừa chạy vừa hô xung phong liền bị ngay một phát đạn, hắn khựng lại rồi đổ bật ngửa ra phía sau, súng trong thành tiếp tục nổ, khiến một số tên nữa gục ngã. Chúng hốt hoảng lùi lại, nằm phục xuống và nổ súng bắn trả.

Bên trong thành, nghĩa quân bắn đến viên đạn cuối cùng, tất cả đã sẵn sàng cho trận chiến xáp lá cà . Thấy trong thành không bắn ra phát súng nào nữa, bọn Pháp biết là đã hết đạn, chúng liền hô xung phong tràn vào cửa thành, một trận chiến xáp lá cà với tiếng hô “ sát” của nghĩa quân đồng loạt vang lên. Người chỉ huy bị thương tựa lưng vào thành, rồi dùng lưỡi gươm tự sát, giữ trọn khí tiết của người chỉ huy  nghĩa quân anh hùng. Trận chiến không cân sức tiếp tục diễn ra đến người nghĩa quân cuối cùng gục ngã hy sinh. Tữ thi của nghĩa quân và xác giặc nằm la liệt khiến cho tên chỉ huy người Pháp phải kêu lên “ Ôi lạy Chúa, thật là khủng khiếp.”

 

*****

Ở mặt trận Tà Keo, từ sáng sớm, tàu địch bắt đầu nã pháo vào trận địa của nghĩa quân, chúng liên tục bắn phá vào đập ngăn sông, vào các vị trí của nghĩa quân dọc hai bên bờ kênh. Nghĩa quân vẫn kiên trì bám trụ, bắn lại bọn Pháp trên tàu và cả lực lượng bộ binh tiến dọc theo hai bờ kênh. Trong trại chỉ huy, một nghĩa quân chạy vào báo cáo: Rạch Giá đã thất thủ rồi, ông Ky đã rút về miệt Kim Qui ở U Minh Thượng rồi, không biết các chỉ huy khác có rút kịp theo ông Ky hay không, riêng quản Cầu đã rút về Hòn Chông. Ông Nguyễn nghe báo cáo, đã suy tính, nếu tiếp tục giữ Tà Keo, không khéo sẽ bị lưỡng đầu thọ địch, nên ông đã ra lệnh cho lực lượng rút về Hòn Chông để củng cố lại lực lượng, ông sẽ  ở lại cản hậu cho anh em rút an toàn.

Bọn Pháp tiến quân dọc theo kênh, vừa qua khỏi đập Tà Keo, thình lình một loạt đạn nổ từ các bụi rậm, bọn lính Pháp đi đầu tốp chết, tốp bị thương ngã vật xuống, tốp đi sau nằm xuống bắn trả dữ dội. Nhưng một sự im ắng đáng sợ …tên đại úy chỉ huy sau một lúc nhỏm lên quan sát, trận địa của nghĩa quân vẫn im lìm, tên sĩ quan cho rằng nghĩa quân đã rút đi, hắn đứng lên ra lệnh cho bọn lính tiến lên…

Ông Nguyễn đang núp trong một gốc cây kín đáo, quan sát rất rõ mọi động tĩnh, cầm lấy khẩu súng, ông nhắm tên đại úy và xiết cò, một tiếng nổ đanh gọn vang lên, tên đại úy hét lên, cánh tay hắn nhuộm máu, ngã vật ra, hàng loạt súng bắn dồn dập vào chỗ ông Nguyễn, vài tiếng súng của nghĩa quân đáp lại yếu ớt…Ông Nguyễn ra lệnh: anh em, rút! Sau khi ra lệnh, ông Nguyễn chạy lên trước, theo sau là các nghĩa quân, đoàn quân nhanh chóng biến mất vào các lùm cây…và đã an toàn rút về hướng Hòn Chông.

 

*****

Ông Ky cùng toán nghĩa quân rút về miệt Kim Qui vùng U Minh Thượng, hằng ngày tin tức về sự khủng bố dã man của giặc Pháp ở Rạch Giá được người dân đi chợ về kể lại, làm ông lo lắng không yên. Hơn nữa, tin tức về ông Nguyễn và các chỉ huy nghĩa quân không biết sống chết thế nào? Càng làm cho ông Ky đứng ngồi không yên.

Ông Ky nói với ông Ngàn: từ hôm đưa quân về đây, không đêm nào tôi ngủ ngon, không biết anh em mình ai còn, ai mất. Tôi tính đưa anh em về Tà Niên, rồi đánh một trận sinh tử với bọn Tây dương, chớ ở đây hoài sao được? Ông Ngàn nói: anh em theo mình là dân chí cốt cả, họ luôn có tinh thần quyết sống chết với giặc. Vậy chừng nào mình đi? Ông Ky nói: đêm nay mình xuất phát, vì đi trong đêm sẽ che được mắt địch, lại khỏe hơn, mình sẽ quyết chiến tới cùng, có chết cũng chết vinh hơn sống nhục

 

******

Vào một đêm, tại nhà ông Lâm Quang Ky  ở Tà Niên, sau khi trao đổi cùng người vợ hiền về cuộc chiến sắp tới. Ông Ky bưng khai trầu trên có đoạn khăn tang trắng, đến trước người cha già là cụ Lâm Kim Diêu đang ngồi trên ghế trường kỷ, ông quỳ xuống và thưa với cha: “Thưa tía, nước Nam ta đang hồi vận bỉ, lủ giặc hống hách, tha hồ đè đầu cưởi cổ, cướp của, giết người, độc ác hơn loài hổ báo. Phận làm trai, con không thể ngồi yên, hiện nay, lũ giặc đang tàn sát dã man người dân ta ở Rạch Giá để trả thù cho thất bại của chúng, tụi con không còn con đường nào khác là trở về đây quyết sống thác với giặc một phen. Con xin tía uống ly rượu nầy và tha tội bất hiếu cho con, vì không thể phụng dưỡng tía lúc tuổi già.” Ông Diêu ngồi lặng yên, cố gắng che nổi xúc động, nói: “ Tía rất vui lòng khi thấy con hàng động đúng, xứng đáng là con dân nước Nam, gia đình họ Lâm ta ở đất Kiên Giang nầy tự hào về con. Con cứ đi, tía cầu mong cho con và các anh em nghĩa quân đạt thành ý nguyện.”, rồi ông cầm ly rượu lên, uống hết. Ông Ky sụp xuống lạy cha già, rồi thưa: thưa tía con đi…

*****

Trời rạng sáng, gà gáy canh năm, từ trong rạch Tà Niên hai chiếc xuồng chở nghĩa quân bơi ra đi về hướng Rạch Giá, đi một đoạn họ cặp bờ và lên bộ đi theo lối đường mòn, ông Ky  hội ý với anh em tìm chỗ phục kích địch . Nhưng nghĩa quân chưa kịp triển khai, thì bọn giặc Pháp đã ra đây phục kích trước, với kinh nghiệm chiến trận, tên trung úy Risard đã ra lệnh nổ súng. Số nghĩa quân đi đầu bị trúng đạn ngã vật ra, rồi tiếng la từ các bụi rậm vang ra: “Tụi bây bị bao vây rồi, đầu hàng đi.” Đáp lại, ông Ky vung kiếm thét lớn : “ Anh em, chúng ta chiến đấu đến cùng, sát .” Nhiều tiếng hô “ sát “ nối tiếp. Ông Ky vung kiếm xông lên, nghĩa quân cũng đồng xông lên. Một trận chiến xáp lá cà diễn ra quyết liệt. Giờ đây, ông Ky  cảm nhận ý chí chiến đấu của mình được thỏa sức tung hoành giữa lũ giặc đang bao vây mình, đường kiếm của ông loang loáng làm cho lũ giặc đứa bị thương, đứa bỏ mạng kêu la inh ỏi…

Bọn giặc được toán lính tuần tra gần đó đến chi viện, tên trung úy Risard thét lớn: “ bắt sống lấy thằng chỉ huy, không cho chúng thoát.” Thấy lực lượng bị hao hụt, ông Ky ra lệnh rút lui: anh em rút trước đi, còn tôi cản hậu cho. Nhưng toán nghĩa quân không thể rút kịp nữa rồi, lớp bị thương, lớp hy sinh, chỉ còn mấy người, bọn giặc ào đến quật ngã họ bắt sống. Tên trung úy Risard  lại tiếp tục thét : “ đầu hàng thì sống, chống thì chết “, nhưng ông Ky cứ tiếp tục chiến đấu đơn độc giữa vòng vây ngày càng dày đặc của lũ giặc. Tên Risard thầm phục ý chí gang thép của đối thủ mà trong cuộc đời chinh chiến của hắn rất hiếm gặp. Bổng “ choang “, thanh kiếm của ông Ky đã bị gãy, ông quăng kiếm, giật phăng áo, nhìn thẳng tên trung úy thét lớn :” tao là Nguyễn Trung Trực đây, bắn đi.” Tên trung úy mừng rỡ và cả đám giặc reo lên : “ A! Nguyễn Trung Trực đây rồi. “ Chúng lao vào ông Ky quật ngã và trói lại, mặt đứa nào cũng hý hửng vì bắt được thủ lĩnh hạ thành Sơn Đá…

 

*****

Qua trận đánh thành Kiên Giang, chúng ta nhận thấy lực lượng nghĩa quân của Nguyễn Trung Trực mang tính chất nhân dân rất đậm nét, trong quá trình xây lực lượng và phát triển lực lượng từ Hòn Chông về Tà Niên đến Rạch Giá, bất cứ nơi đâu cũng được nhân dân ủng hộ, thậm chí tham gia bổ sung lực lượng nhanh chóng. Ngay trong thành phần của đội quân dũng cảm nầy, không chỉ có mặt của những nghĩa sĩ từng sát cánh với Nguyễn Trung Trực trong những trận Nhựt Tảo –Tân An ( 1861 – 1862 ) mà còn có sự tham gia đông  đảo của các tầng lớp nhân dân Kiên Giang, từ hương chức Hội tề như cha con Ông Lâm Quang Ky, Quản Cầu, Xã Lý… như chị em cô Đỏ, kể cả người Khomer như Thạch Pút, và cả người Hoa cũng đều có mặt trong đội ngũ nghĩa quân của Ông Nguyễn.

Cuộc đánh thành Kiên Giang ban đầu nổ ra ở Rạch Giá, sau đó phát triển trên một địa bàn rộng, với những đồn trại của nghĩa quân chạy dài từ Rạch Giá đến Núi Sập, hình thành một phòng tuyến chống giặc. Điều nầy phản ảnh trình độ năng lực chỉ huy quân sự của Ông Nguyễn, cũng như năng lực tác chiến của nghĩa quân gồm nhiều thành phần khác nhau…đã được nâng lên một tầm cao.

******

 

Buổi sáng, trong thành Sơn Đá, Thiếu tá Ansart đang ngồi nói chuyện với tên đại úy Dismuratin trong phòng làm việc, tên thượng sĩ Pháp ở ngoài chạy vào báo cáo phấn khởi: “ thưa thiếu tá, đã bắt được tên Trực.” Tên thiếu tá Ansart hết sức ngạc nhiên, nhưng ai bắt? tên thượng sĩ báo cáo: trung úy Risard dẫn quân đi phục kích đêm qua, đến gần sáng định rút quân về, thì bất ngờ phiến quân xuất hiện lọt vào ổ phục kích của quân ta. Tên Ansart nói: Tuyệt lắm ! một mẻ lưới nhỏ đã bắt được cá lớn ” , rồi ra lệnh giải tên Trực vào…Khi đưa ông Ky vào, cổ bị đeo gông tre, tay bị trói, nét mặt ông vẫn ung dung bình thản nhìn tên chỉ huy Ansart bằng ánh mắt căm thù và khinh miệt. Tên thiếu tá nhìn thấy ánh mắt ấy tỏ ra lúng túng, mất tự nhiên. Hắn ra lệnh : “ tháo gông xiềng cho ông ta!”, rồi hắn ra hiệu “ mời ông ngồi”. Ông Ky ung dung ngồi vào chiếc ghế tên lính Pháp vội mang đến.

Cuộc hỏi cung bắt đầu, trong phòng im phăng phắc, tên thiếu tá cố lấy giọng bình tĩnh hỏi:

  • Ông hay ai chủ mưu đánh đồn Sơn Đá?

Ông Ky bình tĩnh trả lời:

  • Chính tôi.
  • Lực lượng ông có bao nhiêu khi tấn công thành Sơn Đá?
  • Rất nhiều.
  • Ansart gặng giọng hỏi tiếp: nhiều là bao nhiêu?
  • Là nghĩa quân với dân chúng Rạch Giá.
  • Có phải ông vận động những người lính mã tà hưởng ứng cuộc tấn công thành Sơn Đá của các ông vừa rồi?
  • Đúng. Vì họ là những người yêu nước bị các ông mua chuộc, dụ dỗ làm tay sai chống lại đồng bào mình. Nay họ hiểu ra và đi theo chúng tôi, coi như chuộc lại lỗi lầm.
  • Tại sao ông cho giết những người lính của chúng tôi đã hết khả năng chống đỡ.
  • Không đúng. Họ vẫn còn khả năng chống lại, nhưng vì họ không kịp nạp đạn vào súng, chớ không phải hết khả năng.

Tên thiếu tá Ansart nhìn thẳng vào ông Ky  nói:

  • Nếu chúng tôi bỏ qua hết những việc ông làm tổn hại quân đội Pháp, mời ông cộng tác với nước Pháp, chẳng những ông được phong chức tước cao hơn, hưởng bổng lộc nhiều hơn, ông có vui lòng cộng tác với chúng tôi không ?

Ông Ky cau mày nhìn thẳng vào tên Ansart hỏi lại giọng gay gắt: tại sao ông đặt câu hỏi nầy với tôi?

  • Vì nước Pháp vốn trọng nhân tài và không thành kiến với quá khứ. Bản lĩnh quân sự của ông đã khiến chúng tôi dành cho ông sự kính trọng nhất định.

Ông Ky cười nhạt nói: Nước Việt tôi với nước ông vốn không có thù oán, cũng không quan hệ nhau. Hà cớ gì các ông đem quân xâm lược nước tôi, cướp của, đốt nhà, giết hại đồng bào tôi? Tội ác của các ông chồng chất cao hơn núi. Chúng tôi đứng lên đánh các ông để bảo vệ đất nước, đó là lẽ tự nhiên của những người yêu nước. Tôi là dân chài, không ham chức tước, bổng lộc. Các ông đừng hòng mua chuộc tôi. Tôi thà chết chớ quyết không làm tên phản bội. Ông nhớ cho điều đó.

Tên thiếu tá cảm thấy như mình bị hụt hẩng trước ý chí của người đối diện, không khí nặng nề bao trùm cả phòng…

****

Tại dinh Soái phủ Nam kỳ, tên tham mưu trưởng vào trình cho Đô dốc Ohier bức điện của thiếu tá Ansart với vẻ mặt hý hửng báo tin: đã bắt được Nguyễn Trung Trực. Ohier phấn khởi, hãy điện cho Ansart bảo hắn giải ngay tên Trực lên đây…

Cũng sáng hôm ấy, tên quản Lượm nghe tin đi nhanh vào thành Sơn Đá. Hai tên lính áp giải ông Ky ra khỏi thành xuống trại giam gần đó, quản Lượm vừa đi tới. Họ chạm mặt nhau. Ông Ky quắc mắt nhìn tên phản bội với cái nhìn đầy căm ghét và khinh bỉ tên tay sai cho giặc.

Tên quản Lượm vội vào thẳng phòng thiếu tá Ansart báo cáo: thưa thiếu tá, tên tù vừa giải xuống nhà giam không phải là tên Trực đâu ạ. Ansart biến sắc, vội hỏi: vậy nó là ai? Thưa thiếu tá: đó là tên Lâm Quang Ky, phó tướng của Nguyễn Trung Trực, có thể hắn tự nhận để đánh lạc hướng, để ông Trực dễ bề hoạt động. Nhưng bắt được Lâm Quang Ky  cũng là một thành công lớn, vì ông nầy rất nguy hiểm. Chính ông ta đã ra lệnh chém đầu các tù binh Phú Lang Sa và các nhân viên thuế khi chiếm thành Sơn Đá đó. Thiếu tá Ansart  nghe xong, vỗ bàn giận dữ: hắn sẽ phải trả giá cho sự lừa dối nầy.

Đồng thời tên quản Lượm còn báo tin cho Ansart: nghe nói ông Trực còn bà mẹ đang ở Hà Tiên. Ông ta cũng là một người con hiếu thảo…

Thiếu tá Ansart vội báo tin về Soái phủ Nam kỳ về việc bị lừa, sự thật tên bị bắt là Lâm Quang Ky, phó tướng của ông Trực, mạo nhận tên để đánh lừa sự truy quét.

Sau đó, ông Lâm Quang Ky đã bị giặc Pháp trả thù bằng việc xử tử chém đầu và một số nghĩa quân bị bắt tại chợ Rạch Giá. Thế là những người bạn chí cốt với ông Trực ở Tà Niên đều đã hy sinh anh dũng trên mãnh đất tận cùng ở phương Nam Tổ quốc. Họ xứng đáng là những anh hùng của đất Kiên Giang anh dũng bất khuất. Trong đó, ông Lâm Quang Ky được mệnh danh là “ Lê Lai “ của vùng đất Kiên Giang anh hùng.

 

****

Ông Nguyễn nhận định, giặc Pháp sẽ tấn công Hòn Chông, nhưng Hòn Chông sẽ không giữ được lâu dài, vì địa thế không thuận lợi. Ông tính trước sau gì nghĩa quân cũng phải rút ra Phú Quốc, nên đã chuẩn bị số ghe đi biển sẵn sàng cho đợt rút quân, mặc dù nghĩa quân có thêm lực lượng của Thạch Pút, một chỉ huy người Khomer có uy tín lớn với dân chúng sẽ tham gia chống giặc nếu chúng kéo tới. Ngoài ra, ông cũng tính đến việc chọn người tin cẩn đưa mẹ ông từ Hà Tiên ra Phú Quốc.

Người được ông Nguyễn chọn là cô Đỏ, cô giả dạng là một ni cô lên Hà Tiên tìm đến  xóm nhà chỗ mẹ ông Nguyễn ở, theo chỉ dẫn của ông Nguyễn  trước khi đi, nhưng vừa đi lên xóm rẫy tìm nhà chú Chín Chài, cô gặp được một bà già lớn tuổi cho biết: trưa hôm kia, bọn giặc ở đồn Hà Tiên lên đây vây nhà chú Chín, bắt một bà già, chúng cho là mẹ ông Nguyễn, người đánh thành Rạch Giá trước đây, và nghe nói bọn chúng đã đưa bà về Rạch Giá rồi, chắc có bọn xấu chỉ điểm nên Tây dương mới biết đó. Cô nên đi ngay đi, ở đây nguy hiểm lắm…

*****

Thì ra, người chỉ điểm bắt mẹ của ông Nguyễn là tên Tám Bội, một thằng ghiền thuốc phiện, hắn báo với tên đồn trưởng Hà Tiên để tìm tiền thưởng mua thuốc phiện hút cho đã cơn ghiền của hắn. Nhưng trên chiếc giường tre ở nhà hắn, hắn đã đền tội, tay hắn còn nắm mấy đồng bạc trắng tiền thưởng…Và ai đã giết hắn, một tên phản bội hèn hạ đã báo cáo cho giặc Pháp bắt mẹ của ông Nguyễn? Chỉ biết rằng, nhân dân Hà Tiên , những người yêu nước sẽ không bao giờ dung tha cho những kẻ phản bội…

Tại thành Rạch Giá, tên Ansart đã hỏi : Bà có đúng là mẹ tướng Trực không ?

Bà trả lời: Đúng là tui, các ông biết rồi còn hỏi làm gì?

Thiếu tá Ansart mĩm cười nói: Chúng tôi muốn bà viết thư gởi tướng Trực về cộng tác với người Pháp. Vậy ý kiến của bà thế nào trước đề nghị thành thật của chúng tôi?

Bà không dấu nổi niềm tự hào, là người mẹ đã sinh ra người con khiến kẻ thù phải nể sợ. Bà nhìn tên thiếu tá bằng cái nhìn khinh miệt và trả lời dứt khoát: tui không làm chuyện đó đâu, các ông đừng nói mất công. Rồi bà nói tiếp: các ông binh hùng tướng mạnh mà không làm gì được nó, lại cầu cạnh bà già nầy dụ nó về hàng, các ông không thấy nhục sau?

Thiếu tá Ansart nổi giận khi thấy bị làm nhục, hắn ra lệnh: giam mụ già nầy lại, xem mụ còn cứng đầu được bao lâu…

 

*****

Trong lúc đó, được lệnh của Soái phủ Nam kỳ, Đô đốc Ohier ra lệnh cho thiếu tá Ansart huy động lực lượng tấn công Hòn Chông, nơi Nguyễn Trung Trực đang trú quân ở đó…

Một buổi sáng tinh sương, tiếng mõ từng hồi vang lên ở Hòn Chông, báo động một cuộc tấn công của giặc Pháp, tiếng súng nổ vang phá tan sự yên tỉnh của vùng rừng núi ven biển Hòn Chông. Những toán quân Pháp. Ma ní, mã tà tiến vào khu dân cư ven biển Hòn Chông, dưới sự chỉ huy của thiếu tá Ansart chia làm nhiều mũi tiến công, bọn giặc đi đến đâu là lửa khói bốc lên tới đó. Từng đoàn người già cả, đàn ông, đàn bà, trẻ con mang đồ đạt gọn nhẹ dìu dắt nhau chạy vào các hang động sâu trong rừng núi để tránh giặc.

Ở trận địa của nghĩa quân, ông Nguyễn cùng với Thạch Pút căng mắt quan sát cuộc tấn công của giặc Pháp. Khi tốp lính đi đầu lọt vào trận địa, ông Nguyễn ra lệnh, một loạt súng nổ vang rền, tốp lính đi đầu bị quật ngã gần hết, số còn lại vội chạy dạt lại phía sau. Nhưng cuộc tấn công vẫn tiếp diễn, tên Ansart ra lệnh tiến lên, từng tốp lính giặc lại xung phong, cuộc chiến đấu diễn sang trận chiến xáp lá cà, quân địch ngày càng tiến lên đông đảo, nghĩa quân dưới sự chỉ huy của ông Trực vẫn chiến đấu ngoàn cường, mặc dù nhiều tên lính giặc ngã gục, nhưng chúng vẫn tiến lên càng lúc càng đông đảo…Ông Trực nói với Thạch Pút : Bòn rút ngay đi tôi sẽ đánh cản hậu cho. Thạch Pút vội nói: anh cũng rút chớ. Ông Nguyễn nói: tôi sẽ ra Phú Quốc ngay sau đây, sẽ cho người liên lạc với Bòn sau. Thạch Pút xiết chặt tay ông Nguyễn , rồi cùng với những nghĩa quân của mình rút nhanh khỏi trận địa.

Khi thấy quân giặc tiếp viện ngày càng đông, ông Nguyễn ra lệnh rút quân. Nghĩa quân nhanh chóng rời khỏi trận địa sau khi gây nhiều tổn thất cho giặc, số chết, số bị thương nằm la liệt trên trận địa…Nghĩa quân xuống một số ghe chờ sẵn ở một bến vắng , buồm được căng lên, đoàn ghe đi biển chở nghĩa quân tiến thẳng ra đảo Phú Quốc an toàn…

Đoàn ghe cặp bờ biển An Thới, trong lúc nghĩa quân tìm chỗ nghỉ ngơi sau một chuyến biển dài, vất vả. Ông Trực hội ý với các chỉ huy là nhận chìm toàn bộ ghe với hai lý do, một là không người trông giữ, hai là nếu để, bọn xâu có thể lợi dụng lấy ghe đi làm bậy. Nghĩa quân chấp hành nhận chìm hết ghe, rồi theo cụ Nguyễn cắt rừng đi về phía đông để tới Hàm Ninh. Chiều, đoàn quân đã tới Hàm Ninh, đây là một làng chài bé nhỏ nằm dưới chân núi sát biển, dân cư thưa thớt, ông Trực và các chỉ huy nghĩa quân bố trí chỗ nghỉ cho mọi người xong đâu đó…

*****

Tại Soái phủ Nam Kỳ, Đô đốc Ohier nghe tên Tham mưu trưởng báo cáo: mẹ tướng Trực đang bị giam giữ tại Rạch Giá, thiếu tá Ansart đẽ thuyết phục bà ấy viết thư cho Trực kêu gọi Trực về cộng tác với ta, nhưng bà ấy cương quyết từ chối. Riêng Trực  cùng đồng bọn đã thoát chạy ra đảo Phú Quốc an toàn. Đô đốc Ohier ra lệnh: Hãy điện cho Ansart cố gắng thuyết phục bà ấy và phải đối xử tử tế, dù còn ít hy vọng, nhưng đây là con tin cực kỳ quan trọng trong việc thu phục tướng Trực sau nầy.

Tên Tham mưu trưởng lại xin lệnh tiếp: còn tướng Trực ở Phú Quốc Ngài giải quyết thế nào? Đô đốc Ohier ra lệnh: điều động thiếu tá Bouchet Rivière đưa chiến hạm Goeland ra tấn công Phú Quốc, lần nầy bằng mọi giá, không để tướng Trực chạy thoát. Ngày nào chưa diệt được tên tướng giặc nguy hiểm đó, chúng ta sẽ ăn không ngon, ngủ không yên với hắn. Ohier thở dài, ngao ngán: chỉ có Chúa mới biết được hắn giở trò gì, nếu ta để hắn thoát lần nữa….

Tối đến, ông Nguyễn và các chỉ huy ra ngồi trên mấy tảng đá nhìn ra biển tâm sự: Đất nước ta đang hồi vận bĩ khiến cho trăm họ lầm than, phận làm trai thì phải hành xử sao cho “ thiên cổ lưu danh”…đồng thời, các ông bàn chuyện chống giặc đổ bộ ra đây. Ông Nguyễn nói: Hàm Ninh có vị thế là vùng biển thuận lợi cho đổ bộ quân, nếu tính chuyện lâu dài , phải rút lên vùng Cửa Cạn lập căn cứ, ở đó có dân, có địa thế hiểm trở” công khả dĩ công, thủ khả dĩ thủ”, chúng khó truy lùng được ta. Hiện chúng chưa biết rõ lực lượng của ta, do đó, chúng ta vừa đánh vừa nghi binh đánh lừa chúng. Ông Nguyễn nói rõ hơn: khi địch đổ bộ, tôi và một chỉ huy  sẽ đánh dằn mặt chúng, còn các anh thì cho đốt lửa trên núi gây nhiều đám khói, đồng thời cho nghĩa quân cầm cờ đi rồng rắn nhiều hướng để đánh lừa chúng, cho giặc tin là quân ta có nhiều trên núi…Điều nầy chứng tỏ, ông Nguyễn không những giỏi võ nghệ mà còn hiểu biết rộng, một Tướng quân có bản lĩnh quân sự sâu sắc, nhạy bén vận dụng kinh nghiệm để chống giặc có hiệu quả.

 

****

Ngoài biển Hàm Ninh, chiến hạm Goeland do thiếu tá Bouchet Rivière chỉ huy đã thả neo ngoài khơi. Hắn lấy ống nhòm quan sát bãi biển nơi quân Pháp và bọn ma ní chuẩn bị đổ bộ, cảnh vật hoàn toàn yên tĩnh, xóm nhà dân thưa thớt ở dọc ven biển, sâu bên trong là núi rừng bát ngát..Hắn ra lệnh cho tên thiếu úy phụ trách pháo binh bắn dọn đường đổ bộ. Sau những tiếng nổ lớn, từng cột khói dựng lên trên bãi biển Hàm Ninh. Những tiếng nổ vang dội phá tan bầu không khí tĩnh mịch buổi sáng ở vùng biển, một tiếng nổ trúng vào chiến lũy nghĩa quân dựng tạm gần bờ biển, làm cây đá bay mù mịt..Những chiếc xuồng được thả từ chiến hạm Goeland  chở lính Pháp và bọn ma ní , bọn chúng cố sức bơi vào bờ…

Bọn giặc nhảy ra khỏi xuống, tiến vào bờ, chúng vừa đi vừa bắn, dẫn đầu là một tên sĩ quan người Pháp. Từ ngoài khơi, chiến hạm tiếp tục bắn đại bác yểm  trợ  cho quân đổ bộ, chúng chuyển lằn đạn từ bãi lên xóm dân chài, đã có nhà dân bị trúng đạn bốc cháy. Khi lên khỏi bãi biển, chúng tỏa ra nhiều hướng , hùng hổ tiến vào xóm dân chài…

Từ chỗ phục kích ẩn sau các mô đất, tảng đá và những bụi cây, các nghĩa quân căng mắt theo dõi hành động của địch và chờ lệnh tấn công của ông Nguyễn. Từ chỗ ẩn núp, ông Nguyễn cũng căng mắt nhìn bọn giặc từ từ lọt vào chỗ phục kích. Khi tiếng chân địch đến gần, ông Nguyễn đứng lên vung kiếm thét “ sát “, rồi bằng một thế võ, ông Nguyễn đá văng khẩu súng trên tay viên thiếu úy người Pháp, và lưỡi kiếm của cụ đã lia vào cổ tên giặc Pháp, hắn ngã gục xuống…Nhiều tiếng “ sát “ của nghĩa quân đồng loạt vang lên với những mã tấu, giáo mác, tầm vong  vạt nhọn…họ tiến vào đội hình giặc như hổ vờn mồi. Bị đánh bất ngờ, bọn lính lớp chết, lớp bị thương, số còn lại quay đầu chạy dài về phía bãi biển…

Từ ngoài chiến hạm Goeland, Bouchet Rivière  quan sát bằng ống nhòm trận đánh trên bãi biển…Bổng hắn giật mình, khi thấy trên các sườn núi của Hàm Ninh, nhiều toán nghĩa quân ẩn hiện với lá cờ Đại Bái. Như vậy, quân số của hắn không thể chiến đấu với nghĩa quân đông hơn nhiều lần, nếu tiếp tục tấn công, không khỏi tránh được thất bại. Hắn vội ra lệnh thổi kèn rút lui. Bọn lính còn sống sót, tranh nhau chạy về phía xuồng đổ bộ, chúng chen nhau nhảy lên xuống, bơi trối chết ra chiến hạm đậu ngoài khơi…

 

*****

Sau khi Pháp rút khỏi Hàm Ninh, nghĩa quân rút qua Dương Đông, lúc ấy là một thị trấn nhỏ, dân cư thưa thớt. Ông Nguyễn đã gặp được vợ, cô Điều và cô Đỏ, mọi người mừng rỡ…Cô Đỏ báo tin mẹ của ông Nguyễn đã bị chỉ điểm và giặc đã bắt ở Hà Tiên đưa về Rạch Giá, nghe nói, bọn giặc dụ mẹ cụ Nguyễn viết thư dụ cụ ra hàng, nhưng không được, nên chúng còn giam bà ở Rạch Giá. Ông Nguyễn lặng người khi nghe hung tin nầy, hai dòng nước mắt từ từ chảy trên đôi gò má…một lúc sau, ông Nguyễn hỏi cô Điều đã gặp ông quản Thứ và ông xã Ngãi chưa? Cô hãy báo cho họ gặp tôi ngay. Cô Điều vội đi trong chốt lát đưa về hai người đàn ông có tuổi, hai bên chào hỏi nhau xong. Ông Nguyễn báo qua tình hình của nghĩa quân và kêu gọi sự hổ trợ của hai ông với nghĩa quân, nhứt là vũ khí, đạn dược, và lương thực. Hai ông đồng ý, trước mắt sẽ cung cấp cho nghĩa quân lương thực, một số ít đạn dược, nhưng về lâu dài cần phải vượt biển qua Xiêm mua về…

Trời chiều, ở bãi biển Dương Đông, ông Nguyễn tiễn đưa đoàn người do cô Điều và xã Ngãi vượt biển qua Xiêm mua vũ khí cho nghĩa quân. Ông Nguyễn nói: tôi rất tin tưởng chuyến đi nầy sẽ thành công, rất cám ơn tấm lòng của anh chị em đối với nghĩa quân. Người Nam có câu : “ Gia bần tri hiếu tử, quốc loạn thức tôi trung “ , đây là một công việc đầy nguy hiểm. Lòng ông Nguyễn tự nhiên se thắt lại khi nhìn con thuyền ra khơi chìm dần trong làn sương mờ trên mặt biển, hoàng hôn dần tắt nắng…

 

*****

Một buổi sáng ở Soái phủ của Pháp tại Sài gòn, đô đốc Ohier nghe tin báo cáo  trận chiến tại bãi biển Hàm Ninh do thiếu tá Bouchet Rivière đã thất bại. Hắn hỏi: tại sao thất bại? tên Tham mưu trưởng báo cáo: theo thiếu tá Rivière thì quân phiến loạn của tướng Trực rất đông trên núi, trong khi lực lượng đổ bộ của Rivière lên bãi biển Hàm Ninh chỉ hơn một đại đội. Khi cuộc đụng độ xãy ra, Rivière sợ bị tiêu diệt hoàn toàn nên ra lệnh rút lui về Rạch Giá xin tiếp viện. Ohier trầm ngâm rất lâu, rồi hắn gõ mạnh mặt bàn nói: Hắn bị tướng Trực lừa rồi, kể cả ông nữa. Bây giờ ta có thể khẳng định rằng: tướng Trực rất giỏi nghi binh. Vì dân trên đảo không đông, lương thực làm ra không nhiều, phải mua từ đất liền ra, làm sao có thể cung cấp cho đội quân cả ngàn người được.

Nhưng việc tăng quân cho Rivière là phải thực hiện để tiêu diệt bằng được phiến quân. Đồng thời phải thực hiện các bước như sau:

Phải dồn dân trên đảo lại một chỗ; kiểm soát chặt chẽ các bãi biển và trên biển; cắt đứt mọi nguồn tiếp tế cho phiến quân; treo giải thưởng cao cho ai bắt hoặc giết được tướng Trực. Lần nầy, ta giao cho Lãnh binh Tấn, vì tên nầy thông minh và nhiều thủ đoạn để có thể triệt hạ tướng Trực.

Tên Tham mưu trưởng nhận và triển khai ngay lệnh .

 

*****

Mặt biển Hàm Ninh yên tĩnh, lắp lánh ánh sáng mặt trời, chiến hạm Goeland rẽ sóng tiếp tục tiến vào bãi biển Hàm Ninh lần thứ 2, sau thất bại lần thứ 1 phải về xin thêm viện binh. Đi cùng với thiếu tá Bouchet Rivière có tên Việt gian Huỳnh Công Tấn, được đô đốc Ohier giao nhiệm vụ là phải triệt hạ cho bằng được cuộc kháng chiến của nghĩa quân do tướng Trực chỉ huy.

Trên biển Hàm Ninh yên tĩnh, người dân chài vẫn tiếp tục công việc hằng ngày…Bổng sôi động bởi hàng loạt tiếng nổ đại bác nổ vang, hàng loạt cột khói dựng lên cùng với tiếng kêu la inh ỏi hoảng loạn của người dân. Ngoải biển khơi, hàng loạt xuồng chở đầy lính Pháp, ma ní nổ lực bơi về phía bãi biển. Đa số người dân thu gom ngay những đồ vật cần thiết chạy lên núi rừng…

Khi vào tới bờ, bọn Pháp, ma ní, mã tà chia làm nhiều tốp, vừa lùng sụt, vừa nổ súng từ đầu xóm tới cuối xóm, không có một tiếng súng đáp trả. Chúng lùa đàn bà, trẻ em không kịp chạy lên rừng núi, khoảng vài chục người bị gom về một chỗ để điều tra về sự hoạt động của nghĩa quân. Lãnh binh Tấn đến trước mặt quát lớn có tính khủng bố nhằm răn đe những người còn tính chuyện tiếp tế cho nghĩa quân. Hắn ra lệnh bắn bỏ một người đàn bà trung niên cùng với một cần xé bánh tét, bánh ít, với nét mặt hầm hầm, hắn nói: kẻ nào muốn tiếp tế nuôi quân phiến loạn, hãy lấy đó làm gương, ta nói cho các người biết: Bọn phiến loạn do Nguyễn Trung Trực cầm đầu, làm sao chống nổi binh hùng của Phú Lang Sa trên hòn đảo cỏn con nầy. Nhà nước Phú Lang Sa treo giải thưởng 200 quan cho ai bày mưu bắt được Nguyễn Trung Trực, thưởng 500 quan tiền cho ai bắt hoặc lấy được thủ cấp cùa Nguyễn Trung Trực, ngoài tiền thưởng còn được phong quan chức bổng lộc khác. Kể từ hôm nay, các ngươi không được trở về nhà đến khi nào ta tiêu diệt hết đám quân phiến loạn của Nguyễn Trung Trực. Nét mặt vênh váo của tên tay sai đầy quyền lực, nói xong hắn ra lệnh cho lính giữ chặt số người dân bị gán tội tiếp tế lương thực cho nghiã quân…

 

*****

Dưới cơn mưa như trút nước, đoàn nghĩa quân lặng lẽ đi về phía Cửa Cạn…Ngoài khơi cửa biển Dương Đông, tàu chiến giặc thả xuồng cho lính đổ bộ vào bờ…Nghĩa quân chỉ bố trí vài người bắn tỉa ở lại kèm quân địch rồi lặng lẽ rút theo về hướng rừng núi Cửa Cạn…Đến nơi, nghĩa quân nghỉ lại gần vùng núi rừng Cửa Cạn, mưa lớn vẫn kéo dài, nghĩa quân chỉ lấy bánh tét đồng bào cho đem ra ăn, tuy hết sức gian khổ, nhưng không khí vui vẻ trong đoàn nghĩa quân không ngớt tiếng cười đùa…Một số chỉ huy hỏi sao mình không tạm thời qua Xiêm La một thời gian, rồi khi có điều kiện thì trở lại tiếp tục chiến đấu. Ông Nguyễn trả lời, vì một điều đơn giản: mình là dân Nam, đẻ ra và lớn lên ở đất Nam, nay ta đánh giặc Tây dương là để giữ bờ cõi nước Nam, nếu có chết cũng là chết cho nước Nam. Ông bà ta đã nói: Thà làm Thần đất ta, hơn làm ma đất người. Đang trao đổi với nhau, ông Nguyễn được tin báo, vợ ông đang chuyển bụng, ông đứng bật dậy, nhưng trước khi đi vẫn dặn anh em nhớ bố trí anh em quấy rối chỗ đóng quân của giặc để làm kế nghi binh…

Khi đến chòi lá, ông Trực nghe tiếng bà sáu, người theo nghiã quân từ Dương Đông để phụ vợ ông Nguyễn gần ngày sanh nở, “ con trai”, ông Nguyễn mừng quá, bồi hồi xúc động khó tả, vì từ nay ông đã làm cha rồi…

Nghĩa quân tiếp tục chuyển đến gần sông Cửa Cạn, bổng thấy đàn chim bay loạn xạ, bằng kinh nghiệm của người lính chiến, một chỉ huy đi đầu vội ngồi xuống quan sát, từ trên đồi núi, anh thấy một toán quân địch đang tiến về phía nghĩa quân, một đoàn rồng rắn, đi đầu là tên sĩ quan vung kiếm trong tay. Anh vội báo cho ông Nguyễn và anh em biết, được lệnh tản  ra mai phục, rồi tiến về phía một tảng đá lớn có cây che khuất, ông quan sát hồi lâu rồi nhận định: giặc chưa biết quân ta ở đây, chúng chỉ chốt chặn đường tiến quân của ta thôi, nhưng phải đánh, rồi ông ra lệnh cho nghĩa quân mai phục chờ giặc đến gần mới đánh. Đồng thời ra lệnh cho một số chỉ huy dẫn nghĩa quân đi vòng ra phía sau chặn đánh khi chúng rút chạy.

Trời bổng đổ cơn mưa, đường càng trơn trợt, bọn giặc phải dò dẫm từng bước tránh trượt ngã. Khắp dọc theo trườn núi, nghĩa quân căng mắt theo dõi chờ địch, quân địch tiến mỗi lúc càng gần trận địa phục kích của nghĩa quân, khi tên võ quan lọt vào tầm phục kích của nghĩa quân, một tiếng hô “ Sát”, lưỡi kiếm vung ra chém ngọt tên võ quan đi đầu, hắn ngã vật ra. Nhiều tiếng hô Sát của nghĩa quân, từ chỗ phục kích xông ra chém giết bọn lính, quá bất ngờ không tên nào kịp bắn được, một tên ma ní nhào về phía ông Nguyễn, hắn bắn được một tiếng súng thì đầu hắn đã bị lưỡi gươm của cụ Nguyễn chém lìa khỏi cổ. Ông Nguyễn lại vung gươm xông vào trận chiến xáp lá cà đang diễn ra..

Bọn lính còn lại ở phía dưới sông Cửa Cạn nghe tiếng súng nổ, biết là bọn lính của chúng đang gặp nghĩa quân nên tên chỉ huy dẫn số quân còn lại hò reo chạy lên dốc để tiếp ứng. Bổng một tiếng hô “ Sát” vang lên, nghĩa quân từ các bụi rậm, hốc đá xông ra đánh ngang hông đoàn quân tiếp viện, tên chỉ huy bị thương nặng, hắn rên la được hai tên lính cỏng chạy xuống sông Cửa Cạn, số lính còn lại lớp chết, lớp bị thương vội chạy xuống hướng sông Cửa Cạn. Nghĩa quân thu gom được một số súng đạn vươn vãi tại trận địa.Gặp sức kháng cự mãnh liệt của nghĩa quân trên núi, bọn địch sống sót chạy thụt mạng xuống hướng bãi biển cửa sông Cửa Cạn, nơi tàu chiến của chúng đang nã đại bác yểm trợ cho chúng rút lui..

 

*****

Sau trận chiến, nghĩa quân rút sâu vào rừng núi Cửa Cạn đi về hướng Ba Trại, nơi có địa hình hiểm trở, để xây dựng căn cứ chống giặc lâu dài…

Trên đường hành quân thiếu thốn mọi thứ, không có thuốc men, lại thêm mưa gió không ngớt,,,bệnh tình của vợ ông Nguyễn ngày càng trầm trọng, sau khi qua sông Cửa Cạn phía thượng nguồn, ông Nguyễn đã kịp tới bên người vợ đã cùng ông từ khi khởi nghĩa ở Tân An theo nghĩa quân của Trương Định bảo vệ đồn Kỳ Hòa, và bà đã trút hơi thở cuối cùng trên tay ông. Ngôi mộ của Bà được đấp bằng đất bên bờ sông Cửa Cạn , có bốn khúc cây trai cắm bao quanh để làm dấu. Anh  em nghĩa quân đã đi vòng quanh ngôi mộ tiễn biệt lần cuối. Ông Nguyễn thẩn thờ bên mộ vợ, bao nhiêu kỷ niệm chợt ùa về …và cuối cùng là hình ảnh lúc bà lâm chung…Tiếng cô Ba Đỏ như kéo ông Nguyễn trở về thực tại, ông thì thầm lần cuối, rồi theo đoàn quân tiến sâu vào vùng rừng núi bạt ngàn, mưa vẫn tiếp tục …

 

*****

Trong cơn mưa mấy ngày chưa dứt, bổng có những tiếng súng vang lên như đánh thức núi rừng của hai cánh quân lính Pháp. Ma ní, mã tà đang truy kích nghĩa quân, một từ hướng Dương Đông kéo qua, hai là từ bãi biển Cửa Cạn sau khi bổ sung quân tiến lên nguồn sông Cửa Cạn. Trong lúc đó, nghĩa quân đã rút vào Ba Trại, chỉ để những nghĩa quân có tài bắn tỉa giữ các nơi xung yếu. Khi quân Pháp vừa tiến quân vừa bắn súng thị uy, tức thì, có vài tiếng súng của nghĩa quân ở phía bìa rừng bắn trả, những tên đi đầu trúng đạn, ngã lăn ra, khiến quân giặc không còn hùng hổ xông lên, chúng dò dẫm tiến từng bước thận trọng. Trời càng lúc càng mưa nặng hạt, cảnh u ám của núi rừng càng sầu não…

Đứa bé từ lúc sinh ra tới nay chưa được lần uống sửa, chỉ uống nước cháo loãng, nằm trong tấm khăn đã cũ, khóc thét…ông Nguyễn ẫm lấy con, nói rằng sẽ đi tìm người trong rừng nầy, kiếm sửa cho cháu…Ông Nguyễn càng đi sâu vào rừng, cây cỏ chằng chịt, càng không có lối đi, rừng núi hoang vu, biết tìm ai, ở đâu để kiếm sửa cho con đây, lòng đau như cắt…

Tiếng súng nổ càng lúc nghe rất gần, biết rằng quân địch đang truy kích nghĩa quân, Ông cần phải có quyết định , không thể bỏ nghĩa quân, chợt Ông thấy phía trước có gốc cây to, có cái bọng rất lớn, Ông cởi chiếc áo ngoài ngoài của mình quấn thêm cho con, để nén bạc vào bên trong, rồi đặt con vào bọng cây, hy vọng có ai qua đây, trông thấy sẽ đem về nuôi dùm…Ông cúi xuống bế con, hôn lên trán lần cuối, nghẹn ngào: Con hãy tha lỗi cho cha. Tiếng súng càng lúc càng rộ lên rất gần, thôi thúc Ông Nguyễn. Ông đặt con vào bọng cây, rồi nhanh chóng chạy nhanh về hướng tiếng súng…

Ông Nguyễn và các nghĩa quân xông vào quân địch dũng mãnh, khiến quân giặc thất kinh hồn vía, chúng không ngờ đạo quân thiếu lương thực, ốm yếu thế mà có sức mạnh quá ghê gớm như vậy. Ông Nguyễn cố gắng nén nỗi đau thương, dũng mãnh lao vào trận chiến xáp lá cà, trong tay với kiếm sắc, Ông tả xung hữu đột chém gục nhiều tên, …đến tên lính mã tà, hắn cũng biết võ nghệ, vung kiếm chém xả vào Ông Nguyễn, nhưng lưỡi liếm của hắn trong chớp mắt đã bị Ông Nguyễn đá bay khỏi tay hắn, rồi một nhát kiếm tiếp theo đã vào cổ hắn, hắn ngã vật ra, và một cước đá mạnh của Ông Nguyễn tiếp theo đã đưa hắn rơi xuống hẽm núi…cuộc chiến càng lúc càng dữ dội, bọn giặc biết không thể chống cự nổi, đã bỏ chạy trong cơn mưa, kết thúc cuộc truy kích …

Nghĩa quân sống trong vùng rừng núi Ba Trại, phía thượng nguồn sông Cửa Cạn đã bắt đầu thiếu lương thực…Quân Pháp theo kế sách phong tỏa chặt chẽ đường biển, các nơi có dân cư sinh sống, chúng đều gom vào một chỗ tập trung, cuộc sống của người dân như ở trong ngục tù, việc đánh bắt của ngư dân cũng không thể thực hiện, các ngư lưới cụ đều bị chúng thu gom…khiến lòng dân càng căm thù thêm lũ giặc cướp nước và bọn tay sai đã phá tan cuộc sống bình yên của họ…

 

NHỮNG GIÂY PHÚT SAU CÙNG CỦA CỤ NGUYỄN 

 

Lương thực ngày càng khan hiếm, nghĩa quân bắt đầu đi đào củ mài, tìm mít rừng, chuối rừng để ăn, đôi lúc săn trâu hoang trong rừng để làm lương thực…thấy vẻ mặt hơi buồn của một chỉ huy từng sát cánh với mình từ lúc còn ở Tân An, ông Nguyễn hỏi có chuyện gì? Người chỉ huy đưa cho Ông Nguyễn một lá thư nói là của tên Huỳnh Công Tấn gởi cho Ông. Ông Nguyễn ngạc nhiên hỏi: sao anh có lá thư nầy? Hôm qua, lúc anh em đi tìm lương thực, bắt gặp một cụ già mang thư nầy đến, bảo là của Lãnh binh Tấn biểu đưa cho ông Trực, nhưng không dám cho ông ta vào trong nầy, nhằm giữ bí mật căn cứ. Ông Nguyễn  nói: đâu, để coi tên Việt gian nầy nói cái gì? Khi đọc thư, nét mặt Ông Nguyễn đanh lại, đọc xong, Ông giao cho người chỉ huy và bảo: anh hãy đọc đi. Trong thư tên Việt gian Huỳnh Công Tấn viết:” Kính gởi anh Hai Lịch, tôi với anh là bạn đồng môn, đồng đội ngày xưa, Nay tình thế đổi thay, mỗi người một con đường, nhưng lòng kính trọng anh vẫn không thay đổi. Người Phú Lang Sa vốn trọng nhân tài, họ có quân đội hùng mạnh, võ khí tối tân. Cả Triều đình còn dâng đất cầu hòa, mà chưa chắc yên thân với họ. Còn anh, ngày nay thế mỏng, lực tàn, co cụm vào chốn thâm sơn cùng cốc trên hòn đảo hoang vu nầy, làm sao chống đỡ họ được? Tôi khuyên anh giải giáp quy hàng, chắc chắn người Phú Lang Sa sẽ trọng dụng anh. Người xưa có nói: chim khôn tìm cây lành mà đậu, người khôn tìm chúa tốt mà thờ. Nếu anh qui hàng, người Phú Lang Sa sẽ rút quân khỏi đảo, trả lại tự do cho dân đảo làm ăn. Còn nếu anh khăng khăng giữ mối ngu trung với lũ triều đình hủ bại mà không gnhe lời tôi, thì chẳng những thanh danh bị hủy hoại, mà dân chúng đảo nầy cũng sẽ bị xóa sổ không còn. Riêng đối với Bác hai, người mà tôi kính trọng, số phận của bà là do chính anh định đoạt. Thư bất tận ngôn, mấy lời tâm huyết của tình xưa nghĩa cũ, mong chờ sự phúc đáp của anh…Huỳnh Công Tấn.

Trực ra phía tảng đá lớn ngồi trầm ngâm. Đôi mắt suy tư nhìn ra phía xa, một vùng đồi núi xanh trập trùng, xa xa là những làn sóng biển lao xao…số phận của hàng trăm đồng bào bị tập trung một chỗ chịu nắng mưa, đánh đập, chết chóc…hàng chục nghĩa quân sống cơ cực, hình ảnh mẹ già đang bị cầm trong ngục thất…tất cả đều hiện ra đè nặng tâm trí Ông. Ông cần phải có một quyết định dứt khoát.

*****

Những ngày sau, Lãnh binh Huỳnh Công Tấn đang chăm chú đọc thư trả lời của Ông Nguyễn gởi hắn trong phòng chỉ huy của chiến hạm Goeland: Tôi đồng ý nộp mình cho người Phú Lang Sa, nhưng với ba điều kiện:

Một là các người phải thả hết dân trên đảo, mà các người đang giam họ vào một chỗ, đánh đập, tra tấn họ lâu nay, cho họ trở về nhà làm ăn sinh sống bình thường.

Hai là các người không được trả thù những nghĩa quân đã vì đại nghĩa theo tôi ra đảo, họ không có tội tình gì, để họ trở về nguyên quán làm ăn, sum họp gia đình, kiến cơ lập nghiệp như bao người dân khác.

Ba là phải thả mẹ tôi ngay tức khắc, không ràng buộc điều kiện gì khác.

Ba điều kiện nêu trên, nếu không được chấp nhận toàn bộ, thì tôi quyết chiến đấu đến người cuối cùng trên đảo nầy, chống lại sự xâm lược dã man của các người…

Đọc xong, Tấn hỏi Rivière: ý thiếu tá thế nào? Rivière cười và nói tốt quá đi chứ! Đô đốc Ohier chỉ thị cho chúng ta bằng bất cứ giá nào, biện pháp nào miễn là diệt được tướng Trực, dù sống hay đã chết, đó là mục đích của cuộc hành quân nầy. Nay hắn chịu nộp mình, coi như cuộc hành quân đã đạt được mục đích. Ông hãy trả lời thư cho tướng Trực, là ba điều kiện trong thư, quân đội Pháp chấp nhận tất cả. Cả hai khui rượu uống ăn mừng, nét mặt tên nào cũng rạng rỡ…

*****

Một buổi sáng tinh sương, dân chúng trong các trại tập trung trên đảo còn đang rầu rĩ vì bị đàn áp dã man, bổng nghe tiếng loa vang lên: kể từ giờ khắc nầy, theo lệnh của quan Lãnh binh, các người đều được thả tự do, trở về nhà làm ăn sinh sống bình thường, cấm mọi hành động chống lại người Phú Lang Sa, ai vi phạm sẽ bị nghiêm trị. Tất cả dân chúng lặng yên, như không tin vào tai mình, sững sờ rồi òa lên vui mừng như bầy chim rời tổ, mọi người thu dọn rồi ào ra cổng đã mở rộng…

Dưới bến ghe thuyền, các chủ ghe cũng được tập trung cho biết: Theo lệnh của quan Lãnh binh, kể từ hôm nay các ghe thuyền bị tạm giữ được trả tự do, trở lại làm ăn bình thường. Nhưng một số chủ ghe đòi lại hàng hóa thì bị cho là đồ tiếp tế quân phiến loạn nên bị tịch thu, không trả lại. Các chủ ghe bàn tán xôn xao, người đòi kiện, người đòi xí cô hồn cho rồi, có người bảo: bộ các ông không nhớ, cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan sao? Thế rồi mạnh ai nấy nhổ sào, nhổ neo, lui ghe,…

Trời đã về chiều, Ông Nguyễn cùng cô Đỏ đang ngồi trên tảng đá cạnh dòng suối, Ông Nguyễn bảo với cô Đỏ hãy lợi dụng tình hình giặc không còn cấm ghe thuyền ra đảo làm ăn, thu xếp trở về Rạch Giá coi tin tức của mẹ Ông thế nào, càng sớm càng tốt. Rồi Ông tâm sự, là người chỉ huy chưa lo trọn vẹn cho anh em, để họ chịu đựng mọi khó khăn nơi chốn thâm sơn cùng cốc nầy, không thể không thấy trách nhiệm của mình. Nhưng rồi Ông lại nói sang chuyện khác…vì trong thâm tâm, Ông không muốn cho cô Đỏ biết ý đồ nộp mình cho giặc để cứu dân và cứu anh em nghĩa quân trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn nầy.

*****

Đứng trước mũi chiến hạm Goeland, Rivière mĩm cười nói với Tấn: ông đã thả dân và toàn bộ ghe thuyền rồi trước khi tướng Trực nộp mình, e rằng có quá sớm không? Tấn trả lời tự tin: tôi đã từng biết Trực nhiều năm, đó là con người luôn trọng danh dự, Ông ta sẽ không thất hứa đâu. Nhưng Rivière lại nói: nếu vì một lý do nào đó, như áp lực của nghĩa quân, tướng Trực không giữ lời hứa thì sao? Tấn mạnh dạn trả lời: thì chúng ta lại thực hiện những việc chúng ta đã làm vừa rồi. Rivière lại nói: tôi hy vọng chúng ta sẽ sớm kết thúc cuộc chiến ở hoàn đảo nầy, sẽ là một kỷ niệm đẹp trước khi tôi trở về Pháp. Cả hai cùng cười đắc thắng.

*****

Trong rừng núi Ba Trại, Ông Trực đang tập trung nghĩa quân, trông họ giờ quá xơ xác, mình gầy yếu, có người không chịu nổi thời tiết khắc nghiệt, ho rũ rượi, chỉ còn ánh mắt đầy quyết tâm và tin tưởng vào Thủ lĩnh của mình… Đứng trước những người từng vào sanh ra tử với mình, Ông Nguyễn thấy mình như có lỗi với anh em, những người chịu bao khổ cực, chưa một lời than vãng, Ông cảm thấy thương họ với tình thương yêu ruột thịt, một lúc sau, Ông mới bắt đầu nói: tôi sắp nói với anh em một chuyện vô cùng đau lòng, dầu vợ con tôi đã chết, nhưng không thể đau lòng bằng nổi đau nầy…Ông chậm rãi nói tiếp: dầu chịu bao khổ cực, trong vòng nguy hiểm của những cuộc chiến, nhưng anh em không bao giờ rời xa tôi, đồng bào Rạch Giá và Phú Quốc dù bị đàn áp dã man, giặc đưa ra bao giải thưởng lớn để giết hoặc bắt tôi, vẫn không bao giờ phản bội tôi. Tình nghĩa nầy tôi không bao giờ quên, dù có xuống tận suối vàng. Nhưng chỉ vì có mình Trực nầy, mà bao thống thổ, chết chóc của đồng bào trên đảo phải gánh chịu. Còn anh em, những người bạn chiến đấu theo tôi từ thưở đánh giặc ở Sài gòn, Vàm Cỏ, Tân An…có người từ lúc ở Rạch Giá…chúng ta đã làm hết sức mình để cứu dân, cứu nước, nhưng đất nước Nam của chúng ta đang thời vận bĩ, nên mọi cố gắng của chúng ta đều không vượt qua được số trời. Cụ Nguyễn nói tiếp: gặp lúc gian nguy nầy, khó lòng địch nổi với quân xâm lược. Ta tổ chức mọi người đi đánh giặc, bây giờ ta cho phép mọi người được tự do trở về sum họp với gia đình làm ăn sinh sống chờ thời cơ, nhưng anh em nên nhớ: trước sau gì lũ giặc Tây dương cũng bị dân ta đánh đuổi khỏi nước Nam. Một chỉ huy theo Ông Nguyễn từ thưở phất cờ khởi nghĩa đã nói: anh em sẽ không bao giờ quên anh, đất nước và nhân dân sẽ không bao giờ quên anh. Ông Nguyễn nói: thề có đất trời, lòng của Trực nầy lúc nào cũng ở bên cạnh anh em. Còn ta, một mình ta quyết sống chết với quân thù một trận cuối cùng. Ta không thể vì lý do gì mà đầu hàng quân giặc. Ai cùng lòng với ta, hãy xách gươm đứng dậy, chúng ta đi…

Số nghĩa quân còn lành mạnh sau trận ác chiến ở bến đồn vỏn vẹn không quá 20 người, nhưng không ai chịu ra hàng, tất cả cùng đi với Cụ. Cụ Nguyễn rút thanh gươm chỉ lên trời nói lớn: “ Ta thề cùng trời đất, nếu không đánh thắng giặc trận nầy, trời đất hãy chứng giám cho”.

Trong trận chiến nầy, Cụ Nguyễn tả đột hữu xông, chặt biết bao nhiều đầu giặc, cuối cùng Cụ bị thương nặng, bất tỉnh, bị sa vào tay giặc …Cụ Nguyễn bị giặc bắt. Trong hoàn cảnh ấy chỉ có hai con đường hoặc bị bắt, hoặc chết. Để ca ngợi người anh hùng, cụ Huỳnh Mẫn Đạt viết:

“ Anh hùng cứng cổ danh thơm mãi

Lũ sống khom lưng chết thẹn dần”

 

 

******

Chiến hạm Goeland nhổ neo tiến về hướng Rạch Giá, trên tàu, Huỳnh Công Tấn cố thuyết phục Ông Nguyễn, nhưng mọi cố gắng của hắn đều vô dụng…Trên đường về Rạch Giá, được lệnh của Soái phủ Nam kỳ, chiến hạm Goeland đi thẳng về Sài gòn, và bọn chúng đưa Ông Nguyễn giam vào khám lớn  Sài gòn…

Trong dinh Soái phủ Nam kỳ, tên đại tá Tham mưu trưởng trình với Đô đốc Ohier: ngoài Lãnh binh Tấn, đã có một số hương chức đến gặp tướng Trực, nhưng mọi cố gắng thuyết phục tướng Trực đều không hiệu quả, xin lệnh Đô đốc bây giờ phải giải quyết tướng Trực như thế nào? Vì tướng Trực là một người tài, nếu ta thuyết phục được thì sẽ có ảnh hưởng rất lớn, các nhóm phiến loạn khác sẽ mất tinh thần. Nếu không thì phải giết ngay, rất tiếc không có cách nào khác. Ohier trả lời: chừng nào ông thẩm vấn tướng Trực? tên Tham mưu trưởng trả lời: ngày mai sẽ giao cho Piquet trực tiếp hỏi cung.

 

*****

Trong lúc đó, tại Rạch Giá, mẹ Ông Nguyễn đang bị giam trong khám, một người lính đem mâm cơm vào, mời bà ăn và nói: bà cố gắng ăn cơm đi để có sức khỏe, con thấy bà ốm nhiều, bà ăn đi rồi con sẽ báo tin mừng cho bà. Mẹ Ông Nguyễn hỏi tin vui gì vậy? người lính trả lời: bà sắp gặp người anh hùng của bà rồi. Con nghe nói con trai bà đã nộp mình cho Lãnh binh Tấn ở Phú Quốc rồi, họ sắp thả bà, để bà gặp con trai bà đó. Bổng một tiếng kêu trời: bà kêu lên trong đau khổ, con làm vậy là giết mẹ rồi. Bà ho lên rũ rượi, rồi hộc máu tươi, lịm xuống nền gạch. Người lính hốt hoảng, vội kêu cứu…

 

*****

Trong phòng giam lạnh lẽo, giữa đêm khuya, tiếng của Ông Nguyễn ngâm bài thơ “ Cảm hoài” của Đặng Dung  nghe tha thiết, có sức truyền cảm :

Thế sự du du nại lão hà

Vô cùng thiên địa nhập hàm ca

Thời lai đồ điếu thành công dị

Sự khứ anh hùng ẩm hận đa

Trí chủ hữu hoài phù địa trục

Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà

Quốc cừu vị báo đầu tiên bạch

Kỷ độ long truyền đới nguyệt ma!

Ngâm xong bài thơ, Ông tiếp tục ngâm lại hai câu cuối, với nổi niềm chia sẽ với người xưa tâm trạng u uất của trang dũng sĩ trước cảnh nước mất nhà tan mà đành bất lực ngậm ngùi…

Sáng ra, bọn lính vào phòng giam, mở gông xiềng rồi dẫn Ông Nguyễn đến phòng viên giám ngục với thái độ kính trọng. Trong phòng đã có vài tên sĩ quan Pháp và thông ngôn, họ mời Ông Nguyễn ngồi đối diện với tên Piquet. Ông Nguyễn tỏ ra bình tĩnh tự tin, tên Piquet cũng phải thầm phục khí phách của người thủ lĩnh nghĩa quân.

Piquet: nguyên cớ nào Ông tấn công Rạch Giá?

Ông Nguyễn: Tôi được bổ nhiệm chức Thành Thủ Úy ở Hà Tiên, khi tới Hà Tiên thì quân Phú Lang Sa đã chiếm rồi, tôi dẫn quân về Hòn Chông chờ thời cơ. Chính sự tàn ác dã man của quân Phú Lang Sa đối với dân chúng Rạch Giá là nguyên cớ cho việc tấn công của tôi.

Piquet: Triều đình Huế có ra lệnh cho Ông tấn công Rạch Giá không?

Ông Nguyễn: Không! Tôi chỉ huy tấn công Rạch Giá  với tư cách một người yêu nước, chớ không có lệnh nào.

Piquet: Ai quyết định tấn công Rạch Giá?

Ông Nguyễn: Chính sự đàn áp dả man của quân Phú Lang Sa. Lòng thôi thúc trả thù cho người dân Rạch Giá, khiến tôi quyết định tấn công.

Piquet: Ông có thứ vũ khí gì?

Ông Nguyễn: Tôi chỉ có gươm, giáo, mã tấu.

Piquet: Ông có biết các sĩ quan Pháp được mách bảo trước không ?

Ông Nguyễn: Có một ông huyện đã báo. Nhưng họ không tin, vẫn ngủ yên và không phòng thủ. Tôi tấn công lúc 4 giờ sáng, đêm tối và mưa khiến họ mất cảnh giác.

Piquet: có lính Phú Lang Sa nào canh đồn không ?

Ông Nguyễn: có hai lính và hai súng, họ bị giết đầu tiên.

Piquet: Viên Thanh tra và Trưởng đồn bị giết thế nào?

Ông Nguyễn: Tôi không biết được chi tiết, vì lệnh là giết hết người Phú Lang Sa, sáng ra, tôi mới biết, họ bị hạ gục ngay từ lúc đầu tấn công.

Piquet: Sau khi lấy lại bình tĩnh, lính Phú Lang Sa có họp lại tự vệ không?

Ông Nguyễn: có, khoảng 10 người, nhưng bị chúng tôi dồn ép quá, họ không kịp nạp đạn để tự vệ.

Piquet: Làng có được báo tin, và họ có trợ lực cho ông không?

Ông Nguyễn: chỉ có vài người biết, và bọn lính mã tà đến khi bị tấn công họ mới biết. Bọn lính mã tà không yểm trợ cho lính Phú Lang Sa, nếu có, thì tôi khó chiếm được đồn Sơn đá.

Piquet: có bao nhiêu lính Phú Lang Sa thoát khỏi đồn?

Ông Nguyễn: năm người, nhưng bị bắt lại vào buổi sáng, hai người kháng cự lại bị giết, còn ba bị giam lại cùng những viên chức tại nhà làng.

Piquet: Tại sao Ông ra lệnh giết họ?

Ông Nguyễn: Không phải tôi, hơn nữa, không bao giờ tôi làm như vậy. Tại Rạch Giá, lúc đó tôi ra chỉ huy các đập cảng ngăn chặn quân tiếp viện, còn Ông Ky ở lại chỉ huy. Ông Ky đã hạ sát những người mà ông cho rằng đã phạm tội ác với nhân dân tôi. Tôi về tới kịp, đã ra lệnh thả thông ngôn nầy, sau đó rút đi Hòn Chông. Rồi Ông Nguyễn quay sang tên thông ngôn nói rằng: với ảnh hưởng của anh, hãy xin cho tôi được chết ngay. Tên thông ngôn nói: thưa Ông, tôi không thể làm việc đó đối với ân nhân của tôi.

Piquet: tại sao ông giết nhân viên sở thu thuế nha phiến?

Ông Nguyễn: hắn đã giết ba, bốn người dân của tôi, tội ác đó không thể tha thứ.

Piquet: Ông ở đâu khi rời Rạch Giá ?

Ông Nguyễn: tôi ở Hòn Chông.

Piquet: sau đó Ông ở đâu?

Ông Nguyễn: ở Phú Quốc tới ngày tôi bị bắt.

Piquet: những người theo Ông ra đảo hiện giờ ở đâu?

Ông Nguyễn: tôi không rõ.

Piquet: Năm 1861, người ta gọi Ông là gì?

Ông Nguyễn: Quản Lịch. Sau khi đốt tàu ở Vàm Nhựt Tảo, tôi ra Huế nhận chức Quản cơ. Vài năm sau tôi nhận chức Thành Thủ Úy Hà Tiên như ông biết.

Piquet: nhưng nếu người Lang Sa không thành kiến với Ông. Ông có hợp tác với họ không ?

( Trong những lần dụ hàng trước đó, Ông Nguyễn  đã từng khẳng khái nói: cho làm chánh soái, tôi cũng không thèm làm nữa kia. Tôi chỉ muốn một chức thôi…chức gì mà tôi có quyền chặt đầu tất cả bọn Tây.

Pháp soái rất muốn làm sao cho cụ quy hàng, nhưng cụ cảm ơn chỉ xin một chết. Thấy dụ hàng không được, Pháp soái bực tức nói: Ông Lịch nè, dầu ông sống hay chết, binh lực Pháp cũng sẽ tận diệt quân phiến loạn ở xứ nầy.

Cụ Nguyễn mĩm cười đưa tay chỉ ra sân xanh cỏ, ôn tồn đáp: thưa Pháp soái, chúng tôi chắc rằng chừng nào ngài trừ cho hết cỏ trên mặt đất thì chừng đó ngài mới mong ra trừ diệt được những người ái quốc của xứ sở nầy mà ngài giận dữ coi là quân phiến loạn.)

Ông Nguyễn: tôi đã trả lời nhiều lần rồi. Tôi chỉ xin một điều là các ông kết liễu cuộc đời tôi càng sớm càng tốt.

Piquet: cuộc nói chuyện của chúng ta đến đây là kết thúc, tôi sẽ chuyển nguyện vọng của Ông lên cấp trên giải quyết.

Piquet đứng lên chào , hắn cúi đầu với sự khâm phục thành thật.

 

******

Tại Soái phủ Nam kỳ, Đô đốc Ohier cảm thấy bất lực trước sự cương quyết của Ông Nguyễn, hắn đã dùng mọi cách để chiêu dụ Ông Nguyễn đều bất thành..cuối cùng hắn ra lệnh: phải hành quyết tướng Trực ngay tại nơi hắn đã hạ sát người Pháp tại Rạch Giá.

Ở Tà Niên, bà con sau khi nhận được tin dữ, đã họp nhau tại sân đình. Một bà mẹ nói trong nước mắt: Bà con Tà Niên ta không bao giờ quên ơn Ông Nguyễn, người đã vì dân Rạch Giá mà trả thù, giết bọn Tây dương. Nay Ông thọ án tử hình, bà con mình phải tỏ lòng biết ơn sau đây? Cuộc bàn tán càng lúc càng sôi nổi..Một người mẹ đứng lên nói: bà con mình phải dệt chiếu trải trên đường Ông Nguyễn ra pháp trường, để Ông Nguyễn đi trên đó, để tỏ tấm lòng của bà con mình đối với Ông. Bà con thấy được không? Nhiều tiếng hô: phải! phải ! ta trải chiếu như trải tấm lòng của người dân Tà Niên quý mến vị anh hùng vị quốc vong thân. Ngay hôm ấy, cả vùng Tà Niên vắng lặng chỉ nghe tiếng dệt chiếu lách cách vang lên cả vùng, để cho kịp ngày Ông Nguyễn thọ hình…

*****

Trong nhà giam ở Rạch Giá, Ông Nguyễn cổ bị đeo  gông, chân bị xiềng, nhưng Ông vẫn ung dung, hết sức bình tĩnh đón nhận cái chết. Bổng có tiếng mở cửa, một tên sĩ quan Pháp và tên thông ngôn bước vào phòng giam, họ chào Ông với thái độ vô cùng kính trọng. Hắn nói: hôm nay bản án sẽ được thi hành, trong giây phút cuối cùng nầy, Ông có nguyện vọng gì, sẽ được chấp thuận. Ông Nguyễn bình thản nói: Một là tôi muốn các ông cho tất cả người dân đến pháp trường, những người tôi yêu kính nhất, để tôi nói lời sau cùng. Hai là khi ra pháp trường tôi được mặc bộ quốc phục của Việt Nam là áo dài khăn đóng màu đen. Chỉ có vậy thôi. Tên sĩ quan nói: nguyện vọng của Ông sẽ được đáp ứng đầy đủ vào ngày mai…

 

*****

Sáng hôm sau, không biết từ lúc nào, người dân Tà Niên đã trải chiếu bông dài theo đường đi từ cửa khám đến khoảng đất trống trước Pon- ga-leau, ( chỗ sân trước Bưu điện và Sở Mật thám Pháp ) cạnh bờ kênh Rạch Ông, bên kia là chợ Rạch Giá, nơi đây Pháp dùng làm pháp trường xử tử hình Ông Nguyễn.

Xung quanh các nẻo đường quanh pháp trường và chợ Rạch Giá, Pháp bố trí bọn lính ma ní, mã tà đứng canh gát dầy đặc phòng bất trắc. Nhân dân Rạch Giá, Tà Niên đứng dọc theo đường Ông Nguyễn ra pháp trường, nhiều người mặc đồ lễ phục màu trắng, nhiều người quấn khăn trắng trên đầu để tiễn biệt người anh hùng của nhân dân lần cuối đi vào cõi vĩnh hằng. Ông Nguyễn rất ngạc nhiên và xúc động trước tấm lòng của nhân dân đối với Ông, trong đám đông, Ông cũng nhận ra một số nghĩa quân đã theo Ông từ thuở đầu kháng Pháp…Ông Nguyễn chậm rãi bước đi, những bước chân thong thả của người dạo cảnh, một sự bình tĩnh lạ thường của người chiến thắng, Ông mĩm cười với nhân dân như nhắn nhủ rằng sứ mạng của Ông đã làm đầy đủ bổn phận với dân với nước.

Tên Fregate Ansart, sĩ quan Pháp bước tới trước mặt Ông Nguyễn, hắn giơ tay chào và hỏi: Ông có yêu cầu gì lần cuối? Ông Nguyễn trả lời: cho tôi uống nước một trái dừa tươi, rồi sẽ nói ít lời với đồng bào tôi. Tên sĩ quan trả lời đồng ý. Hai tên lính tháo hết gông, xiềng cho Ông Nguyễn, một tên bưng trái dừa xiêm đã vạt dâng hai tay kính cẩn cho Ông Nguyễn. Sau khi uống hết nước trái dừa xiêm, Ông Nguyễn bước lên gò đất dùng làm nơi hành hình tử tội. Ông nhìn đồng bào lần cuối rồi nói:

Kính thưa bà con, những người đã cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ tôi và anh em nghĩa quân những lúc khó khăn, gian khổ…tôi sẽ mang nặng ơn nầy về nơi chín suối. Rồi Ông Nguyễn ngâm bài thơ:

Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên

Yêu gian đởm khí hữu long tuyền

Anh hùng nhược ngộ vô dung địa

Bảo hận thâm cừu bất đới thiên.

Đồng bào hãy tin rằng, nước Nam ta đang gặp cơn bĩ cực, nhưng càn khôn bĩ rồi lại thái, nhựt nguyệt mờ rồi lại tỏ, nước Nam ta nhứt định sẽ có ngày con cháu đứng lên đánh đuổi kẻ thù, đời cha không đánh được thì đời con, đời cháu sẽ tiếp tục đánh đuổi hết giặc mới thôi, sẽ giành lại non sông đất nước.

Đó là điều tôi tin chắc chắn. Xin cảm ơn đồng bào đến tiễn biệt tôi. Xin vĩnh biệt.

Một vị cố đạo đến bên Ông Nguyễn làm phép lành cho người tử tội theo tục lệ, ba tiếng chuông vang lên của vị cố đạo làm tan nát lòng dân chúng , tiếng khóc rộ lên…

Tay tên đội Phấn rung rung, nhưng Ông Nguyễn quát: quân ác phò Tây, đừng dở thói, hãy lấy đầu ta một cách thật tốt. Hắn múa gươm chém ngập vào cổ Ông Nguyễn, ai nấy đều nhắm mắt lại, không dám nhìn cảnh tượng hải hùng ấy, nhưng khi nhìn lên, một cảnh tượng lạ lùng, thủ cấp của Ông Nguyễn sau khi lìa khỏi cổ, không rơi xuống đất, lại rơi vào đôi bàn tay của Ông. Thủ cấp lại trừng trừng giữa đôi mắt sáng long lanh, máu tuông ra xối xả…phải chăng, ở giờ phút sau cùng, Ông Nguyễn vẫn không chịu để đầu rơi xuống chỗ bùn nhơ ? …Tên đao phủ sợ quá rú lên một tiếng khủng khiếp, buông gươm, ù té chạy khỏi pháp trường. Đồng bào đã khóc nức nở trong sự tiếc thương vô hạn. Đó là ngày 13/10/1868 ( nhằm ngày 28/8 âm lịch, ngày Nhâm Thân, năm Mậu Thìn ), nhưng cũng có tài liệu cho rằng ngày hành hình Ông là ngày 27/10/1868 ( nhằm ngày 12/9 âm lịch, ngày Bính Tuất, năm Mậu Thìn); riêng đình Nguyễn Trung Trực tổ chức cúng giỗ Cụ Nguyễn vào ngày 26 – 27 – 28 /8 âm lịch hàng năm, và hiện nay nâng cấp thành Lễ hội truyền thống ( năm 2018 là năm thứ 150 ngày Cụ Nguyễn hy sinh ); còn ở Đền tưởng niệm chiến thắng Nhựt Tảo, Bến Lức, Long An, lấy ngày 12/9 âm lịch làm ngày kỷ niệm Cụ Nguyễn hy sinh ( từ năm 2010 ); kết thúc cuộc đời oanh liệt của người dân chài anh hùng vừa tròn 30 tuổi, đã để lại cho đời sau một tấm gương trung, hiếu, tiết,  nghĩa, sống mãi với muôn đời sau.

Chúng ta nhận thấy, Ông Nguyễn hy sinh thân mình đánh lừa địch, coi như chúng đập tan quân khởi nghĩa, để có cơ hội cho nghĩa quân củng cố lực lượng và nhân dân không bị giết chóc khủng bố. Ông đã cứu lấy lực lượng nghĩa quân, cứu lấy sanh mạng của người dân trên đảo, đó là một hành động anh hùng.

Trong chúng ta, những người hậu thế, ai chẳng ít nhiều thán phục lòng cương dũng của Nguyễn tướng quân, luôn nhớ ơn mãi mãi người anh hùng đầu tiên chống Pháp ở đất Nam kỳ. Ông đã đền xong nợ nước, nhưng giờ phút kiêu hùng của Ông vẫn sống mãi trong lòng dân.

 

ĐOẠN KẾT

” NHỨT CHÍ TỒN, VẠN CỔ TRUYỀN.”

 

Cái hung tin Ông Nguyễn bị hành quyết tại Rạch Giá vang đi khắp nơi, các vị Cần Vương nước mắt lưng tròng. Trương Huệ đang đánh phá Tây Ninh, dừng ngựa, bùi ngùi, hướng về Kiên Giang, kính cẩn nghiêng mình. Quản Sự tại núi Dừa làm trai đàng cầu siêu cho Ông Nguyễn 7 ngày. Phan Tôn, Phan Liêm toan hưng binh đến bao vây thành Long Hồ lấy đầu tên Fregate Ansart để trả thù. Phong trào khởi nghĩa ở Nam kỳ càng sôi nổi, giặc Pháp càng ruồng bố tàn bạo, bao nhiêu dân lành đành chịu khổ đau dưới họng súng tàn ác của giặc Pháp. Cụ Đổ Chiểu dù bị mù, trốn giặc ở những vùng xa xôi hẻo lánh, nhưng không quên nhắc đến Ông Nguyễn, nhứt là lời thề của mọi người nghĩa quân  của Ông Nguyễn : NHỨT CHÍ TỒN, VẠN CỔ TRUYỀN.

Đảng Cựu dự kiến tổ chức lễ tế cụ Nguyễn tại núi Trầu, để gây phong trào kháng chiến sôi nổi trong dân chúng, nhưng gần tới ngày lễ tế, bổng có tin đồng huyện Nguyện được Ông Nguyễn ứng điềm linh cho biết không nên làm lớn chuyện của Ông, vì nó không đáng gì với vạn chiến công của một khối dân chúng đã liều mình cứu nước. Mọi người thấm thía hơn với mấy chữ : NHỨT CHÍ TỒN, VẠN CỔ TRUYỀN mà Ông Nguyễn chọn làm lời thề cho tất cả nghĩa quân chiến đấu bên cạnh Ông. Lễ tế cụ Nguyễn biến thành ngày hội lớn cầu siêu cho lục tỉnh tử sĩ dân tại An Bình ( Cao Lãnh ).

Cụ Đồ Chiểu được mời viết bài văn tế. Cụ Phan Tôn được chọn đọc bài văn tế. Trên bài vị có dòng chữ “ Nhứt chí tồn, vạn cổ truyền” , thay một lời nhắc nhở đến anh linh của cụ Nguyễn.

Hởi ôi!

Tủi phận biên manh, căm loài gian tặc!

Ngoài sáu tỉnh còn gợi câu ân đổ, dân nhờ Vua đặng lẽ sống vui. Trong một phương sao mắc chữ lục trần, người vì nước rủ nhau chết ngặt.

Nhớ linh xưa,

Tiếng đồn trung nghĩa đến xa

Thói giữ cương thường làm chắc.

Từ thuở Tây qua cướp đất, xưng tân trào gây nợ oán cừu,

Chẳng qua dân mắc nạn Trời, hoài cựu chúa mang lời phản trắc.

Các bậc Sĩ, Nông, Công, cố liều mạng mang tai với súng song tầm:; mấy nơi tổng, lý, xã, thôn thảy mắc hại vì cờ tam sắc.

Bọn tam giáo quen theo đường cũ, riêng than bất hạnh làm nghèo.

Bầy cửu lưu cứ giữ nghĩa xưa, thầm tủi vô cô chịu cực. Phạt cho đến người nghèo kẻ khó: bị khảo, bị tù, bị đày, bị giết, trẻ già nào xiếc đếm tên.

Đem ba tất hơi mõm bỏ liều, hoặc sông, hoặc biển, hoặc núi, hoặc rừng, quen lạ thảy đều rơi nước mắt.

Khá thương thay:

Dân ta nước lửa bấy chầy,

Giặc ép mở dầu hết sức.

Đành những kẻ chá tù, anh oán, nhảy vòng báo ứng đã cam.

Cực cho người vợ yêu, con côi, gây đoạn thảm sầu không dứt.

Man mác trăm chiều phận sự, sống những lo trả nợ cho đời,

Phôi pha một mãnh hình hài, thác rồi bỏ làm phân cho đất.

Nghĩ nổi anh hùng nạn nước, bãi khô lâu nào kẻ khóc than

Tưởng câu danh lợi luận đời, trường quỷ lụy mặc ai náo nác.

Lòng nghĩa quân, thảo với ngô quân.

Tiếng nghịch đảng, lổi cùng đích vựt.

Gần Côn Nôn, xa đại hải, xác thây trôi nổi ai nhìn,

Hàng Cai đội, bậc Quản cơ, xương thịt rã rời ai cất?

Sống thời chịu tuyết sương Trời một góc, khó đem sừng ngựa chịu qui kỳ. Thác rồi theo mưa ngút biển muôn trùng, khôn mượn thơ nhàn đem tin tức.

Thấp thoáng hồn hoa, bóng quế, lòng cố hương gởi lại bóng trăng thu.

Bơ vơ nước quỉ, non ma, hơi ấm sát về theo luồng gió Bắc.

Như vậy thời:

Số dẩu theo sáu nẻo luân hồi,

Khí sau để trăm năm uất ức.

Trời Gia Định ngày chiều rạng sáng, âm hồn theo cơn bóng ác dật dờ,

Đất Biên Hòa đêm vắng sao lu, oan quỉ nhóm ngọn đèn thần hiu hắt.

An, Hà quận đang khi bạch trú, gió cây vụt thổi, cát bụi tùy con trốt xoáy bên thành.

Long, Tường giang mỗi buổi hoàng hôn, khói nước sông mù, lửa đốm nhang binh, ma chào dưới vực.

Ôi!

Nhìn thấy rặng cờ lao, trống sấm, mỉa mai trận nghĩa khởi binh tinh,

Thảm đôi ngàn ngựa gió xe mây, mường tượng vong linh về chiến luật.

Người lạt phách theo miền duyên hải, cung ngao, lầu thần, thành một câu thân thế phù trầm,

Kẻ du hồn ở chốn sơn lâm, lũy kiến, đồn ong, còn bốn chữ âm dương phảng phất.

Trời đất ơi!

Muốn sống cho yên, thác sao rằng bức,

Dẩu sớm thay ngọn cờ điếu phạt.

Phận thần dân đâu chẳng toan còn;

Chưa kịp nghe tiếng trống an nhương, nghĩa quân phụ nào dè thác mất.

Hoặc là sợ như đất tiên Tần mộ Sở, cuộc can qua sống ở những ghê mình,

Hoặc là lo như Trời nam Tống, bắc Kim, đường binh cách thoát đi cho khuất mắt.

Tiếc non nước ấy, nhân dân nhường ấy, gây sự ngày nào thấy phép tẩy oan. Biết cha mẹ đâu, tộc loài đâu, chạnh tình đó nhớ ra ơn điêu tuất.

Tuy uổng mạng, hãy chờ khi cách mạng, sẵn vòng  quả báo vấn vương,

Song oan hồn chưa có kẻ chiêu, khiến tấm hình hài bực tức.

Nhớ phận áo cơm đất nước, trọn mấy năm, ngóng cổ trông quân.

So bề mồ mả ông cha, còn hơn đứa đành lòng theo giặc.

Nghĩ nay,

Cam cảnh Nam Trung, trách lòng tạo vật,

Ví như thể sinh đời Đông Tấn, nay đánh giặc Hồ, mai dẹp Yết, thời phơi gan trong đám chiến tranh,

Nào phải đâu ở cỏi U Yên, sớm đầu Hạ, tối đầu Liêu, mà trây trây máu trên đường Kinh Cức.

Phải Trời cho mượn cánh huyền phá Lổ, Nguyễn tướng quân còn cuộc nghĩa binh, ít người được xem tấm bảng phong Thần, Phan học sĩ hết lòng lo cứu quốc.

Muôn dặm giang sơn trào thánh đó, giang sơn còn, Hội thánh vẫn còn, ngàn năm hồn phách nạn dân nầy, hồn phách mất, tiếng dân nào mất.

Dẩu đặng ân nhuần khô cốt, cơn trị bình nào thấy đạo Vương,

Muốn cho phép vớt linh hồn, buổi ly loạn khôn cầu kinh Phật.

Ôi!

Trời buông màn, quỷ trắng mấy năm,

Người nóng hận suối vàng lắm bực.

Cảnh Nam thổ phơi màu họa thảo,

Động tình oan, nữa úa, nữa tươi

Cỏi Tây Thiên treo bức vân hà,

Kết hội oan chẳng thưa chẳng nhặt.

Ngày nào gió thổi lao xao tin đả mã, thoát nhóm, thoát tan, thoát lui, thoát tới, như tuồng bán dạng tinh binh,

Đêm trăng mờ gieo rắt tiếng Đổ Quyên, dường hờn, dường oán, dường khóc, dường than, đòi đoạn tỏ tình oan khúc.

Xưa nghe có bến sông Vị Thủy, lấy lễ nhân đấu tế đãng hồn oan. Nay biết đâu bãi cát trường sa, mượn của âm phủ độ bè quỉ ức.

Đốt ngọn nhang trầm, Trời đất chứng, chút gọi là làm lễ  Đãng vong,

Đọc bài văn tế quỉ thần soi, xin hộ đó theo đường âm chất.

Giọng của Phan Tôn đọc nghe bi thiết, khiến ai nấy xiết nổi nảo lòng, càng nhớ đến chúng dân sĩ tử Nam Kỳ, càng nặng lòng cảm hoài khí phách anh hùng của Nguyễn Trung Trực, đã lưu lại cho dân chúng Nam kỳ một sự nghiệp, một tinh thần bất khuất của Nguyễn Trung Trực, tạo thành những cuộc khởi nghĩa bạo động, lúc ngấm ngầm u uất căm thù, như cuộc khởi nghĩa của Thiên hộ Dương, Đốc binh Kiều, và cả dân chúng tự động nổi lên giết giặc.

Hàm tước không có nghĩa gì với tinh  thần đấu tranh giải phóng cao rộng của Nguyễn Trung Trực, đã vì nhân dân mà gian lao quật khởi, đã đưa sự nghiệp của Nguyễn Trung Trực lưu lại trong tâm trí của nhân dân mãi mãi.

Một ngôi miếu cổ trở thành đình Thần ở Rạch Giá, và hai mươi ba ngôi đền, đình Thần tại Kiên Giang, các bài Văn tế, mấy bài thơ của cụ Đồ Chiểu, vài bài thơ, câu đối của nhà thơ Huỳnh Mẫn Đạt, đã lưu lại trong tấm lòng của người dân Kiên Giang nói riêng, của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nói chung, và lưu lại trong tâm trí của đồng bào cả nước, há chẳng là bất tữ hay sao?

ĐOẠN KẾT

Chùng ta có thể tóm tắt sự nghiệp đấu tranh của Ông Nguyễn Trung Trực với các trận đánh oai hùng như:

–  Trận chiến đấu ác liệt cùng Trương Định bảo vệ đại đồn Kỳ Hòa.

–  Trận đánh chặn quân Pháp tiến về Định Tường trên dòng Bảo Giang.         –  Trận đốt tàu Espérance trên Vàm sông Nhựt Tảo.

–   Trận liên tập một đêm đánh 7 đồn để giải vây cho binh lực lãnh binh Nguyễn Công Nhân.

–   Trận tấn công Núi Tượng.

–   Trận chiến tại Vàm Răng.

–   Trận đột kích tấn công  thành Sơn đá tại Kiên Giang.

–   Trận chiến tại bãi biển Hàm Ninh.

–   Trận chiến tại bãi biển Cửa Cạn….

Nhưng thử hỏi, một ít trận chiến oanh liệt không thể nói lên được toàn bộ sự nghiệp vĩ đại của người anh hùng trong gần 10 năm kháng chiến chống Pháp hay không? Hay so sánh với trăm ngàn trận chiến của nước ta trong gần một thế kỷ chống giặc ngoại xâm. Nhưng cái giá trị của mỗi sự kiện phải đánh giá ngay trong một hoàn cảnh, thời gian và không gian lịch sử của nó, mới cân xứng được nặng nhẹ tương đồng.

Ảnh hưởng và liên kết trực tiếp của các cuộc kháng chiến tại Nam kỳ càng tô điểm sáng lạng thêm sự nghiệp của Nguyễn Trung Trực, với Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản, Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, Cụ Đồ Chiểu, các vị anh hùng trong Nam, các vị Lãnh binh trấn thủ các tỉnh…cùng Đảng Cựu và dân cư từ vùng, và chính có nói được những trắc ẩn đương thời của hoàn cảnh ấy, mới soi sáng sự nghiệp muôn đời của Nguyễn Trung Trực.

Chúng ta có thể xem bài điếu Nguyễn Trung Trực của cụ Huỳnh Mẫn Đạt như lời khẳng định công lao của người anh hùng cứu nước, dám hy sinh vì đại nghĩa, xã thân vì nước …

Thắng phụ nhung trường bất túc luân,

Đồi ba đê trụ ức ngư dân.

Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa,

Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần.

Nhất đán phi thường tiêu tiết nghĩa,

Lưỡng toàn vô úy báo quân thân.

Anh hùng cường cảnh phương danh thọ,

Tu sát đê đầu vị tử nhân.

Cũng như câu nói của Ông với Pháp soái sau cùng : “ Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam, thì mới hết người Nam đánh Tây”. Phải chăng con cháu chúng ta hôm nay và mai sau sẽ nhớ mãi cuộc đối đáp nầy là trận chiến đấu cuối cùng, nhưng vô cùng khẳng khái, mưu trí và oai hùng  của Nguyễn Trung Trực, một thanh niên không học nhiều, nhưng với lòng căm thù quân xâm lược cao độ và tinh thần yêu nước nồng nàn, đã nhanh trí tìm ra ngay một câu trả lời thật mạnh mẽ, thật kiêu dũng, hiên ngang, làm quân thù khiếp phục và là bài học yêu nước mãi mãi cho muôn đời hậu thế noi theo.

 

Mùa Xuân Mậu Tuất 2018.

 

Nguyễn Phước Hoa        

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỘT SỐ MÃNH GHÉP VỀ

CỤ NGUYỄN TRUNG TRỰC

***  

 

QUÊ HƯƠNG CON NGƯỜI CỦA

NGUYỄN TRUNG TRỰC

 

Ngày nay, lần theo dấu vết, nơi chôn nhau cắt rún của Nguyễn Trung Trực , chúng ta được biết rằng: Nguyễn Trung Trực chính tên là Nguyễn Văn Lịch, được sinh ra và lớn lên ở Xóm Nghề ( một xóm trước đây chuyên nghề chài lưới ), nay là ấp 1, xã Bình Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Thất ra  vào khoảng năm 1820, xã Bình Đức ( huyện Bến Lức, tỉnh Long An ) vốn là thôn Bình Nhựt, tổng Bình Cách, huyện Thuận An, phủ Tân An, Trấn Thiên An. Đến đời Minh Mạng 1836, tổng Bình Cách được chia làm ba tổng: Bình Cách, Bình Cách Thượng và Bình Cách Trung. Lúc đó thôn Bình Nhựt nằm trong tổng Bình Cách Thượng, huyện Thuận An, phủ Tân An, Gia Định.

Do sinh trưởng trên một vùng “ đất nhiều sông ngòi, người nào cũng giỏi bơi lội” , nên ngay từ nhỏ, Nguyễn Văn Lịch đã gắn bó với kênh rạch, sông nước Bến Lức, Vàm Cỏ Đông, và từ ấy chuyên sống về nghề chài lưới.

Theo quyển “ Gia Định thông chí “ của Trịnh Hoài Đức mô tả rằng : “ dọc theo sông ( Bến Lức ), phố xả trù mật, có bán ghe nhỏ than củi, dầu rái, bao lác và buồm ghe. Qua 12 dặm rưởi đến quán cây Ba Da ( tục danh quán Ba Cụm) có miếu gọi là Miếu Ba Cây Da…( còn ) ở bờ phía Nam sông ấy, quán xá trù mật, ghe thuyền qua lại tạm đình, đợi nước lên sẽ đi vào Nam hay là ra Bắc. Sau chợ có lỵ sở huyện nha”. Điều đó cho chúng ta biết: Ngày trước, ở ngã ba sông Bến Lức – Vàm Cỏ và giáp nước Ba Cụm là những điểm cư dân tập trung đông đúc, buôn bán khá tấp nập, đồng thời cũng là nơi ăn chơi của khách giang hồ qua lại. Họ là “ dân giang hồ”….lữ khách tụ hiệp ( gọi là dân tứ chánh ) từ nhiều nơi về đây làm ăn, hoạt động, tạo ra nạn “ bối” nổi tiếng một thời. Có lẽ vị quyền sung quản binh đạo Nguyễn Văn Lịch đã biết tập họp dân “giang hồ tứ chiếng “ vùng “ Bối Ba Cụm” – những người được coi là “ trọng nghĩa khinh tài”, “ hào hiệp “, thành lực lượng nghĩa quân kiên cường, dũng cảm tấn công giặc Pháp, làm nên chiến thắng Nhựt Tảo vang dội (10/12//1861).

Cũng cần chú ý rằng: Bến Lức – Tân An thời đó cũng là nơi có nhiều lò võ và xuất hiện nhiều thầy dạy võ nổi tiếng trong vùng. Nhờ vậy, khi lớn lên Nguyễn Văn Lịch rất giỏi võ nghệ và luôn thể hiện tinh thần thượng võ, đức tính can đảm, mưu trí linh hoạt.

Trong tác phẩm “ Kỳ xuyên văn sao”, khi viết truyện Hồ Huân Nghiệp, nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông ( 1827 – 1884 ) đã nhận xét “ Nguyễn Lịch tính thâm trầm nghiêm nghị và can đảm”, và chính con người ấy đã nêu “ tấm gương chói lọi” xứng đáng cho người đời sau noi theo. Ngay cả khi bị bắt giam tại khám lớn Sài gòn ( 1868 ), thái độ cương quyết và dũng cảm của Ông đã khiến kẻ thù phải khâm phục. Chính Paulin Vial đã nhận xét Ông là “ người rất tự trọng, có tư cách đáng quí và đầy nghị lực”, đồng thời, xác nhận “ Trực có một gương mặt thông minh ( Une physiononie intelligente ) và có thiện cảm ( sympathique).

Phải chăng với tấm lòng yêu nước thương dân và lý tưởng đấu tranh cao cả, vì sự sống còn của dân tộc, Nguyễn Trung Trực đã viết nên bản anh hùng ca tuyệt đẹp của nhân dân ta thời ấy.

Chúng tôi cho rằng cái đáng quí mà người anh hùng Nguyễn Trung Trực để lại cho dân tộc ta, không phải chỉ là những chiến công hiển hách được sử sách và đời người sau ghi nhớ, mà cái đọng lại, tinh túy nhất trong toàn bộ cuộc đời, đó là đạo lý làm người Việt Nam. Hơn thế nữa, lại là đạo lý làm người Việt Nam trong giờ phút nước sôi lửa bỏng của toàn dân tộc. Đạo lý đó được biểu hiện ở tinh thần xướng nghĩa, tụ họp hào kiệt bốn phương đánh đuổi giặc ngoại xâm, bất chấp tương quan lực lượng, không khuất phục trước sức mạnh của kẻ thù, cũng không kể chuyện thành bại, hể giặc đến thì đánh.

Đó là đạo lý ngàn đời không lay chuyển của dân  tộc ta.

 

NHỮNG CÁNH QUÂN VÀ CÁCH BỐ TRÍ

CỦA NGUYỄN TRUNG TRỰC Ở PHÚ QUỐC

 

– Vùng căn cứ chính là ở rạch Cửa Cạn. Cửa Cạn là rạch dài nhất đảo, bắt nguồn từ dãy núi Bãi Bổn ở bờ phía  đông của đảo. Xung quanh hai bên rạch là vùng núi bạt ngàn. Nguyễn Trung Trực đã bố trí rãi quân từ ngã ba sông vào tận vùng cầu Trắng, đá vách theo hình chữ nhất. Toàn bộ vùng nầy rộng trên 100 Km2 theo thứ tự như sau: đầu xón Cửa Cạn ( Phước Lộc ) là đội đưa tin chạy hiệu – đội tiền tiêu ở ngã ba sông – kéo dài hai bên bờ sông là vùng đóng quân như rạch Bà Cửu, Bến cây Cồng, Kẻ sức, Bến ghe lương, Búng ghe lương. Ba trại ngoài là cụm quân chiến đấu lớn bảo vệ vùng tư dinh. Phía sau vùng nầy là nơi làm ruông, chỗ cao làm rẫy ( ruông từ Suối cây cao đến Hốc xã Lễn dài hơn 500 m, tộng gần 300 m. Vùng làm ruộng thứ hai là đồng Ông Út và Bàu ruộng. Rẫy là vùng đồng Cây Sơn, cây Quéo và đồng Chú Mười ) – vùng tư dinh Nguyễn Trung Trực – Ba trại trong là cụm quân chiến đấu bảo vệ tư dinh  – Suối bà Phái – Suối bà Nghĩa – Cụm trại Lâm – Ụ ghe – Cụm Năm Căn 1, cánh quân bảo vệ mặt hậu. Từ đây có đường ra vùng Rạch Vẹm và Cẩn Sơn từ 5 km – 7 km, mặc dù xuyên rừng cây lớn nhưng rất dẽ đi – Vổ Trạm Lâm  nối tiếp Vồ Hàm Rồng, sau lưng là hai dãy núi hẹp rút lui lý tưởng – cuối cùng là bến Bà Tám và đá vách. Hiện giờ hai khu vực nầy còn gốc Trai – Trò sao bạt ngàn rêu phủ kín. Thời chống Pháp và chống Mỹ nơi đây không có người ở. Trai còn ngổn ngang, sau giải phóng ta mới vào khai phá tiếp.  Đặc biệt còn sót lại một vài gốc cổ thụ rất lớn. Chúng ta chú ý Cụm trại Lâm và Cụm Năm Căn rất rộng. Ở đây Nần trồng ba cụm khoảng 10 ha. Cụm thứ nhất là trại Lâm đến Vồ núi Bà Phái dọc theo hai bên bờ sông. Cụm thứ hai là Vồ Nần và trại Năm Căn. Cụm thứ ba là Suối Nần và bến Bà Tám. Bờ bên kia là vùng bưng Năm Căn cá rất nhiều, nhân dân bây giờ vẫn ăn cá mà không hết nổi, nơi đây là đầu nguồn của Suối Bà Nghĩa.

– Vùng rạch Vũng Bàu là cánh quân do Đội Ba phụ trách, có trách nhiệm bảo vệ và phòng thủ biển.

– Vùng rạch Cửa Lấp là  điểm hậu cần đóng tàu. Ụ tàu.

– Rạch Dương Đông có Cầu Đồn ngoài cửa, vào sâu gần 6 km là trại súng và kho lương.

– Hòn một và Hàm Ninh là những điểm cố tình để lộ và dụ Pháp vào đánh theo chiến thuật “ làm ít hóa nhiều “ nghi binh, hao mòn và đánh cận chiến.

– Vồ Hòn Chảo – Vồ Ông Diệu – Vồ Gành Dầu là đội quân quan sát biển phía Bắc đảo và liên lạc về đất liền ( Hà Tiên, Hòn Chông …) thông tin về vùng căn cứ Phước Lộc bằng cách đốt lửa.

– Vồ Hương là điểm đóng quân quan sát biển, bảo vệ Đông và Nam đảo, tụ điểm dân cư An Thái.

 

HÌNH THƯỢNG CỤ NGUYỄN

 

          Trước kẻ thù là giặc Pháp, hình tượng Ông Nguyễn càng kỳ vĩ, ngời sáng. Ông Nguyễn đã dõng dạc cất lên tiếng nói mãnh liệt, tràn đầy khí phách tự hào: “ Nước Nam nầy bao giờ hết cỏ, mới hết người giết chúng bay”. Cỏ nước Nam bao giờ hết được, cũng như ở đâu cũng có người dân Nam đánh Pháp. Lời Ông Nguyễn mộc mạc nhưng đã thành chân lý lịch sử. Đó là lời non nước, cất lên từ cỏ, từ đất, lấy mênh mông bạt ngàn của cây cỏ nước Nam làm biểu tượng cho đội ngũ trùng trùng những người dân Nam bộ khắp nơi đứng lên đánh giặc. Câu ca dao bất hủ: ‘ Bao giờ hết cỏ Tháp Mười, thì dân Nam mới hết người đánh Tây” là bắt đầu từ đây. Mối liên hệ từ lời Ông Nguyễn tới lời nước Nam cũng bắt đầu từ đây.

Ông Nguyễn bị kẻ thù chém nhưng không để cho đầu rơi xuống đất. Hai tay Ông nâng lấy đầu mình. Đó là tư thế chết mà vẫn sống, vẫn lẫm liệt. Sống anh hùng thì chết cũng anh hùng, sống không chịu cúi đầu thì chết cũng không để rơi đầu. Điều nầy thể hiện thể xác chết nhưng khí phách, chí khí của Ông vẫn sống, vẫn chiến đấu, quật ngã quân thù.

Ông Nguyễn mất, trời Rạch Giá mưa tuôn tầm tả suốt ba ngày đêm. Đồng bào cũng không ngưng nước mắt khóc thương Ông. Nỗi đau xót mất mát lớn lao bao phủ cả thiên nhiên sốn núi. Người anh hùng mất đi, từ trời đất cho tới con người đều đau buồn thương tiếc.

Nhân dân yêu mến, cảm phục Ông Nguyễn, đã không tiếc công sức đi tìm xác Ông, và tạo Linh vị Ông đưa về thờ tại đình thờ Cá Ông ( Nam Hải Đại tướng quân theo sắc phong ), là vị Thần của biển cả, rất linh thiêng. Khi nhân dân rước Ông Nguyễn về thờ tại đình Cá Ông, và đổi thành đình Nguyễn Trung Trực cho tới nay, điều nầy có nghĩa là hình tượng Ông Nguyễn có sức sống mãnh liệt trong lòng nhân dân hơn cả vị Thần biển cả.

Hằng trăm năm nay đã trở thành nếp quen thuộc, người Kiên Giang gọi Nguyễn Trung Trực bằng “ Ông”, bằng “ Cụ “, hoặc “ Ông Nguyễn”, “ Cụ  Nguyễn “ , kiêng gọi tên húy của Người. Những lúc khó khăn, thắp nén nhang xin Cụ phù trì. Những lúc thuận lợi, thắp nén nhang lại tạ. Buôn gần, bán xa, đi sớm, về tối, nhiều người đều lấy chỗ dựa tinh cậy, đó là tinh thần Cụ Nguyễn. Ở Kiên Giang có rất nhiều miếu thờ Cụ Nguyễn, nhưng nhiều gia đình còn thờ riêng trong nhà như thờ ông bà, cha mẹ. Không ai dám nói một điều xúc phạm đã đành, nhưng cũng không ai dám nói, dám suy nghĩ một điều gì ngang trái trước đình thờ hoặc trước tượng Cụ. Nhân dân đã nâng Cụ lên hàng Thần Thánh. Thần Thánh là biểu tượng vô hình, nhưng tấm lòng đối xử của dân là sự thực của suy nghĩ và hành động.

Nhân dân xem Cụ Nguyễn là Thần Thánh, như vị cứu tinh, tôn sùng Cụ  đến mức linh thiêng, vượt quá giới hạn. Cũng có một lý do chính đáng vì Cụ Nguyễn là một con người thật sự, bằng xương, bằng máu, biết bắt cá, biết làm ruộng, biết sắc thuốc cho mẹ uống, và biết hăng hái, có mưu mẹo, cầm kiếm xông pha trận mạc diệt quân thù, hy sinh trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thoát khỏi họa xâm lăng. Vô cùng vinh dự cho quê hương Kiên Giang, Cụ Nguyễn đã sống, chiến đấu, hy sinh mà dấu vết để lại mãi mãi, tiếng thơm còn lưu truyền đến ngàn thu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

***   

  • Nguyễn Trung Trực – Nhà văn Sơn Nam và Ngọc Linh

Xuất bản : 1959

  • Ông Chánh tri Nguyễn Văn Khoa , Chủ tịch Hội đồng tỉnh Kiên Giang – tài liệu 1970
  • Đặc khảo về Nguyễn Trung Trực – Tập san Sử -Địa – Tạp chí xưa và nay ( 1966 – 1975 ) – in lại tháng 4/2016
  • Nguyễn Trung Trực – Khúc ca bi tráng – Dương Linh – tháng 10/2012
  • Đại Nam Quốc sử lược.
  • Gia định Thông chí của Trịnh Hoài Đức.
  • Lịch sử quân sự Đồng Tháp từ khởi nghĩa đến nay – tháng 7/1930
  • Hội thảo khoa học Nguyễn Trung Trực – Bảo tàng Kiên Giang 1989
  • Điếu Nguyễn Trung Trực – Huỳnh Mẫn Đạt.
  • Lịch sử Đảng bộ Phú Quốc – Lê Hoàng Nam và Phạm Đình Cừ.
  • Gia Định thông chí của Trịnh Hoài Đức, tập trung, quyển III, nhà XB Sài gòn 1972.
  • Theo Địa bộ Minh Mạng 1836.
  • “ Đại Nam nhất thống chí” , tập V , bản dịch của Phạm Trọng Điềm, nhà XB khoa học và xã hội, Hà Nội, 1971.
  • Truyền thuyết dân gian về Nguyễn Trung Trực- Tiến sĩ Bùi Mạnh Nhị.
  • Lịch vạn niên giai đoạn 1800 – 1968 . Google .